Sunday, March 27, 2016

TRƯƠNG sĩ tú GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN tệ của NGÂN HÀNG NHÀ nước VIỆT NAM

Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường lập tức đảo ngược lại việc sử dụng công cụ đó. Nếu ngân hàng trung ương thấy rằng cung ứng tiền tệ tăng quá nhanh do mua quá nhiều trên thị trường mở, thì lập tức nó có thể sửa chữa ngay bằng cách tiến hành nghiệp vụ bán. Thứ ba: Nghiệp vụ thị trường mở có thể được hoàn thành nhanh chóng không gây những chậm chế về mặt hàng chính. Khi ngân hàng Trung ương muốn thay đổi cơ số tiền tệ hoặc dự trữ nó chỉ việc ra lệnh cho người kinh doanh chứng khoán và việc mua bán được thực hiện tức khắc. Nhược điểm: đòi hỏi phải có thị trường chứng khoán phát triển và chỉ có thể áp dụng trong điều kiện mà hầu hết tiền trong lưu thông đều nằm ở tài khoản tại ngân hàng. 1.5.2. Dự trữ bắt buộc. Ngân hàng trung ương được giao quyền bắt buộc các ngân hàng trung gian phải ký gửi tại ngân hàng Trung ương một phần của tổng số tiền gửi mà ngân hàng trung gian nhận được từ dân cư và các thành phần kinh tế theo một tỉ lệ nhất định. Phần bắt buộc kỳ gửi đó được gọi là dự trữ bắt buộc và tỷ lệ phần trăm mà ngân hàng trung ương quy định như trên gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Như vậy tỉ lệ dự trữ bắt buộc là hệ số giữ dự trữ bắt buộc và tổng số tiền ký thác của khách hàng tại ngân hàng trung gian. Mục đích của việc thực hiện dự trữ bắt buộc là nhằm: - Giới hạn khả năng thương mại của ngân hàng trung gian, tránh được trường hợp ngân hàng này quá ham kiếm lợi nhuận bằng cách cho vay quá mức, có thể phương hại tới quyền lợi của người ký gửi tiền ở ngân hàng tức là đảm bảo an toàn tiền gưỉ của khách hàng. - Việc tập trung dự trữ của ngân hàng trung gian ở ngân hàng trung ương còn là một phương tiện để ngân hàng trung ương có thêm quyền lực để điều khiển hệ thống ngân hàng tạo sự lệ thuộc của ngân hàng trung gian đối với ngân hàng trung ương. - Duy trì khả năng thanh toán của các ngân hàng trung gian trong những trường hợp xảy ra tình trạng đồng loạt rút tiền gửi của công chúng, tránh được tình trạng khủng hoảng ngân hàng. Về nguyên tắc, khi ấn định một một dự trữ bắt buộc thấp, ngân hàng trung ương muốn khuyến khích các ngân hàng trung gian mở rộng mức cho vay của họ, tức là muốn gia tăng khối lượng tiền tệ. Điều này sẽ kích thích được các hoạt động kinh tế, tăng khả năng giao lưu các nguồn vốn tài chính giữa các doanh nghiệp, thể hiện một SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:9 Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường chính sách tiền tệ nới lỏng. Ngược lại khi nâng cao mức dự trữ bắt buộc, ngân hàng trung ương muốn giới hạn khả năng cho vay của ngân hàng trung gian, báo hiệu một chính sách tiền tệ thắt chặt. Điều này tác động tới lợi nhuận của ngân hàng trung gian. Chính vì thế khi tiến hành gia tăng dự trữ bắt buộc đòi hỏi phải nghiên cứu trước sức chịu đựng của ngân hàng trung gian với mức dự trữ mới sẽ ban hành. Để ngân hàng trung gian không bị lỗ và cộng tác với ngân hàng trung ương trong việc thực thi chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương có thể trả lãi cho mức dự trữ thặng dư nào đó của ngân hàng trung gian, kèm theo một chính sách lãi suất thích hợp. Cộng vào đó, ngân hàng trung ương có thể vận dụng mức dự trữ bắt buộc một cách uyển chuyển hơn, bằng cách phân biệt nhiều mức dự trữ bắt buộc, chẳng hạn, do tính chất thanh khoản của mỗi loại tiền gửi, ngân hàng trung ương có thể quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc của tiền gửi không kỳ hạn cao hơn tỉ lệ dự trữ bắt buộc cả tiền gửi có kỳ hạn. Điểm lợi chính của việc sử dụng dự trữ bắt buộc là nó có thể tác động tới tất cả các ngân hàng như nhau và có tác dụng đầy quyền lực đến cung ứng tiền tệ. Nhưng hạn chế của nó là một sự thay đổi nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ tạo ra một sự thay đổi lớn của lượng tiền cung ứng và có thể tạo ra một cú sốc đối với nền kinh tế. Khi bị "lỡ tay" trong việc quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc thì ngân hàng trung ương sẽ không kịp bổ sung. Đặc biệt đối với những nước có lượng tiền mặt trong lưu thông còn quá nhiều như Việt Nam thì tỉ lệ dự trữ bắt buộc chưa có tác động mạnh đến lượng tiền cung ứng. Biện pháp thay đổi dự trữ bắt buộc cần thực hiện một cách thận trọng và muốn có hiệu quả cần phải đi kèm với những biện pháp khác, cần phải có những nhà hoạch định chính sách có khả năng cao. 1.5.3. Chiết khấu, tái chiết khấu Nghiệp vụ của ngân hàng thương mại là kinh doanh tiền tệ, tức là nhận tiền gửi và cho vay phần lớn tiền gửi đó. Nhưng không phải lúc nào hoạt động của ngân hàng cũng thuận lợi. Có những lúc người gửi tiền đến rút tiền quá nhiều, ngân hàng dễ rơi vào tình trạng kẹt vốn. Những trường hợp ào ạt rút tiền thường xảy ra theo những chu kỳ kinh tế. Do đó nhiều ngân hàng khó tránh khỏi tình trạng thiếu khả năng chi trả, do đó nếu không có ngân hàng trung ương, ngân hàng trung gian sẽ rất nguy hiểm vì dễ rơi vào tình trạng phá sản. Chính vào những lúc khó khăn đó, ngân hàng thương mại SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:10 Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường sẽ tìm mọi cách để có được vốn để chi trả có thể là đi vay, và người cho vay cuối cùng của ngân hàng thương mại chính là ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương sẽ cấp tín dụng cho ngân hàng thương mại qua nhiều hình thức, thông dụng nhất là tái cấp vốn dưới hình thức chiết khấu (tái chiết khấu) các thương phiếu. Khi chấp nhận chiết khấu tức là ngân hàng trung ương đã làm tăng khối tiền tệ. Đây là hình thức phát hành tiền được xem là lành mạnh do được đảm bảo bằng các giấy tờ có giá, và khi các chứng khoán đáo hạn ngân hàng Trung ương sẽ đòi các món nợ cho vay. Bên cạnh đó, việc cho vay này luôn gắn liền với yêu cầu của nền kinh tế do sự tác động trực tiếp của quy luật cung cầu. Thông qua lãi suất tái chiết khấu, ngân hàng trung ương có thể khuyến khích giảm hoặc tăng mức cung ứng tín dụng của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế, đồng thời giảm hoặc tăng mức cung ứng tiền. Khi thực hiện chính sách "thắt chặt" tiền tệ, ngân hàng trung ương sẽ nâng lãi suất chiết khấu lên. Khi đó các ngân hàng thương mại sẽ nâng lãi suất cho vay hoặc hạn chế bớt những cơ hội cho vay. Và ngược lại, khi thực hiện chính sách tiền tệ "nới lỏng", ngân hàng trung ương hạ thấp lãi suất chiết khấu, ngân hàng thương mại trong trường hợp này đi vay rẻ lên có khynh hướng giảm bớt lãi suất cho vay dẫn đến nhu cầu vay gia tăng. Ngoài ra, chính sách chiết khấu, tái chiết khấu còn là công cụ đắc lực trong định hướng phát triển kinh tế. Đối với chính sách kích thích xuất khẩu, ngân hàng trung ương sẽ ưu tiên tái chiết khấu các thương phiếu xuất khẩu hoặc nâng hạn mức tái chiết khấu đối với các thương phiếu đó. Tuy nhiên, khi chấp nhận tái chiết khấu là ngân hàng trung ương đã tăng khối lượng tiền cung ứng. Chính vì tầm quan trọng đó nên ngân hàng trung ương chỉ có thể chấp nhận tài chính chiết khấu theo ba điều kiện sau: - Ngân hàng thương mại đó phải còn hạn mức tín dụng chưa sử dụng hết. - Khối lượng tiền cung ứng bằng con đường tín dụng tức chỉ tiêu tín dụng cho nền kinh tế còn được phép cung ứng thêm. - Ban thân các ngân hàng thương mại đem thương phiếu để tái chiết khấu phải là những thương phiếu tốt. Như vậy, chiết khấu và tái chiết khấu chính là hành động mua các thương phiếu của ngân hàng trung ương nhằm điều chỉnh mức cung ứng tín dụng của NHTM đối với nền kinh tế, đồng thời qua đó điều chỉnh cung ứng tiền tệ. SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:11 Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường Chiết khấu và tái chiết khấu có những ưu điểm và nhược điểm sau: - Ưu điểm: + Các khoản cho vay của NHTM đều được đảm bảo bằng các giấy tờ có giá. Do nó có khả năng tự thanh toán. + Có tính chất tích cực hơn biện pháp hạn mức tín dụng do chịu sự tác động của quy luật cung cầu. - Nhược điểm: + NHTW bị thụ động do yếu tố chủ động đi vay hay không nằm ở NHTM. + Yếu tố chính trị trong lãi suất chiết khấu quá lớn. Việc áp đặt một lãi suất chiết khấu chịu yếu tố chủ quan của NHTW rất lớn, nó có thể đưa ra một lãi suất chiết khấu không phù hợp với lãi suất thị trường khi NHTW bị phụ thuộc nhiều vào chính phủ. 1.5.4. Chính sách lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi. Lãi suất (interest rates) được xem là công cụ gián tiếp thực hiện chính sách tiền tệ trong việc cung ứng tiền vào lưu thông hoặc rút bớt tiền khỏi lưu thông. Sở dĩ, nói lãi suất là công cụ gián tiếp, bởi lẽ, lãi suất không trực tiếp làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ trong lưu thông. Thông thường chính sách lãi suất đi vay (Bid Rates) hay lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay (offered Rates) biến đổi cùng chiều, nghĩa là, cả hai mức lãi suất đó đều tăng lên hay giảm xuống đồng thời. Khi lãi suất tiền gửi được nâng lên thì lãi suất cho vay cũng được nâng lên và ngược lại, tuỳ theo chính sách của ngân hàng trung ương. Tuy nhiên, nó vận động ngược chiều với giá cả của chứng khoán. Để lãi suất có thể đóng vai trò như một công cụ hữu hiệu thì việc hình thành lãi suất phải tuân thủ các nguyên tắc sau: - Lãi suất tín đụng danh nghĩa bình quân bao giờ cũng phải bé hơn lợi nhuận danh nghĩa bình quân. - Lãi suất tín dụng danh nghĩa phải bằng lãi suất thực cộng với một tỷ lệ lạm phát. - Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn bao giờ cũng phải bằng lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn. - Lãi suất đồng ngoại tệ bằng lãi suất đồng nội tệ. - Lãi suất dài hạn bao giờ cũng lớn hơn lãi suất ngắn hạn. - Lãi suất giữa các thành phần kinh tế khác nhau phải giống nhau. - Lãi suất cho vay bình quân phải lớn hơn lãi suất huy động bình quân. SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:12 Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường Hiện nay, trên thế giới có hai quan điểm về cơ chế hình thành lãi suất. - Quan điểm thứ nhất: ấn định lãi suất, tức là ngân hàng trung ương phải qui định lãi suất đối với các ngân hàng trung gian. -Quan điểm thứ hai: Thả nổi lãi suất, tức là lãi suất do thị trường quyết định. Ở các nước công nghiệp phát triển, phần lớn các ngân hàng trung ương theo chính sách tác động gián tiếp tới lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay. ít khi ngân hàng trung ương áp dụng biện pháp ấn định lãi suất. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, ngân hàng trung ương cũng ấn định một "trần" (ceiling) lãi suất tối đa áp dụng cho tiền gửi. Hiện một số nước còn đang áp dụng biện pháp ấn định lãi suất đối với các ngân hàng trung gian, không được cạnh tranh với nhau về lãi suất. Theo hướng này, thông thường ngân hàng trung ương quy định lãi suất trần tối đa đối với tiền gửi và lãi suất sàn đối với tiền cho vay. Tuy nhiên, những cuộc nghiên cứu của ngân hàng thế giới cho thấy những trần (ceilings) cứng nhắc đã làm cản trở sự tăng trưởng về tiết kiệm tài chính và giảm thiểu hiệu năng của đầu tư. Chính phủ ở nhiều nước đang phát triển ngày càng thừa nhận lãi suất chịu sự quản lý của nhà nước có thể có hại, họ có khuynh hướng để cho thị trường có tiếng nói lớn hơn. Song, trong điều kiện sự ổn định kinh tế vĩ mô chưa được thiết lập, nhà nước có thể tiếp tục quản lý lãi suất. Tóm lại, công cụ lãi suất trong chính sách tiền tệ là công cụ cực kỳ lợi hại, có sức phản công rất ghê gớm, một nhà kinh tế người Mỹ đã nói, nó là một công cụ để kích thích sản xuất đồng thời là một công cụ để kìm hãm sản xuất, tuỳ thuộc vào sự khôn ngoan hay khờ dại của những người sử dụng công cụ này. 1.5.5. Cung ứng tiền mặt pháp định Ngân hàng trung ương có thể trực tiếp làm tăng, giảm dự trữ và cung ứng tiền, bằng các nghiệp vụ trên thị trường hối đoái và nghiệp vụ cho vayvới chính phủ, ngoài nghiệp vụ thị trường mở và cho vay chiết khấu, tái chiết khấu. Khi ngân hàng trung ương đưa tiền mặt ra mua ngoại tệ, lập tức sẽ làm gia tăng lượng tiền trong lưu thông, dẫn đến tỷ giá ngoại tệ lên cao, nghĩa là phá giá đồng bản tệ. Ngược lại, khi hàng trung ương đem ngoại tệ ra bán, làm giảm nhanh cung ứng tiền, lượng tiền trong lưu thông giảm đi, tỷ giá ngoại tệ hạ thấp xuống, tức là nâng giá đồng bản tệ. SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:13 Bài tiểu luận tài chính tiền tệ phần 2 GVHD: Trần Thị Hường Khi ngân sách chính phủ thâm hụt (budget deficit), nhu cầu vay mượn của chính phủ sẽ phát sinh, ngân hàng trung ương thường phải cho chính phủ vay tiền. Lượng tiền cho vay này sẽ làm tăng cung ứng tiền trong nền kinh tế thông qua việc chi tiêu của chính phủ. Ngược lai, đến khi ngân sách thặng dư, Ngân hàng trung ương đòi nợ và chính phủ trả nợ, lượng tiền mặt của chính phủ bị ngân hàng trung ương rút về, làm cho cung ứng tiền trong lưu thông giảm theo. 1.5.6. Kiểm soát tín dụng chọn lọc Chính sách kiểm soát tín dụng chọn lọc được áp dụng ở rất nhiều ngân hàng trung ương, chẳng hạn như ở Nhật Bản, Pháp, Hàn Quốc, Đức, Hoa Kỳ. Chính sách kiểm soát tín dụng chọn lọc sẽ giới hạn mức tín dụng tối đa cấp cho những ngày mà nhà nước không muốn phát triển nữa, ngược lại, ưu đãi những ngành hoạt động được coi như ưu tiên, cần yểm trợ tín dụng mạnh hơn. Nếu không có chính sách kiểm soát tín dụng chọn lọc, ngân hàng trung gian sẽ chỉ hướng tín dụng vào những ngành kinh doanh lớn, xí nghiệp nước ngoài, mua bán chứng khoán, ít chú trọng tới những ngành hoạt động có lợi ích xã hội. Để chính sách này thật sự mang tính hữu hiệu, cần phải thường xuyên nâng cao chất lượng kiểm soát và thanh tra ngân hàng trung gian. 1.5.7. Ấn định hạn mức tín dụng ấn định hạn mức tín dụng là việc ngân hàng trung ương quy định một khối lượng tín dụng phải cung cấp cho nền kinh tế trong một thời gian nhất định. Căn cứ để xác định hạn mức là: - Tốc độ, tăng trưởng kinh tế - Chỉ số lạm phát - Một loạt các chỉ tiêu khác về tỉ giá, công ăn việc làm, tỷ lệ thâm hụt ngân sách nhà nước... Khi Ngân hàng trung ương muốn bành trướng khối tiền tệ thì sẽ mở rộng hạn mức tín dụng ngược lại sẽ thu hẹp hạn mức tín dụng. Ưu điểm: Giúp ngân hàng Trung ương quản lý điều tiết được lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế khi các công cụ truyền thống không hiệu quả Nhược điểm: + Tổng dư nợ thực tế của ngân hàng thương mại nói chung là không bằng hạn mức tín dụng mà ngân hàng trung ương quy định từ trước vì có nhiều ngân hàng SVTH: Trương Sĩ Tú Trang:14

No comments:

Post a Comment