Monday, March 14, 2016

TÌNH HÌNH tỷ GIÁ và GIẢI PHÁP điều HÀNH CHÍNH SÁCH tỷ GIÁ ở VIỆT NAM

Chuyên đề môn học GVHD: Lê Đức Thiện Rõ ràng, NHNN đã thể hiện sự lưỡng lự và không nhất quán trong chính sách tỷ giá. Việc sử dụng biên độ tỷ giá thay cho việc phá giá chính thức vào tháng 3/2009 cũng không có tác dụng như mong muốn. Trong cả năm, bất chấp các biện pháp hành chính (như yêu cầu các Tổng công ty nhà nước bán ngoại tệ cho Chính phủ) cũng như các công bố của lãnh đạo NHNN, NHNN đã không thể kéo tỷ giá thị trường tự do về sát với tỷ giá NHTM như mong muốn. Thêm vào đó, do phải giữ ổn định tỷ giá trong thời gian dài, NHNN đã phải bán ra hơn một lượng lớn USD làm giảm dự trữ ngoại hối. Vào cuối năm 2009, kỳ vọng mất giá của đồng tiền Việt Nam hiện vẫn còn khá lớn. * Giai đoạn 2010 - 2011 Năm 2010 tiếp tục chứng kiến các xu hướng tương tự trên thị trường ngoại hối như trong năm 2009. Cụ thể là các NTTM vẫn tiếp tục đặt tỷ giá tại trần biên độ của tỷ giá chính thức trong hầu hết các tháng trong năm và khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do có lúc đã tăng lên những mức cao chưa từng có vào cuối năm 2010. Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Quỳnh – Nguyễn Thị Minh Tâm Trang 7 Chuyên đề môn học GVHD: Lê Đức Thiện Do các áp lực vẫn tiếp tục tăng cao dù NHNN đã có nhiều nỗ lực vào cuối năm 2009, đến ngày 11/02/2010, NHNN đã phải tăng tỷ giá chính thức từ 17.941 VND/USD lên 18.544 VND/USD, tương đương với việc phá giá 3,3%. Cùng với việc nâng tỷ giá này, NHNN đã thực hiện hàng loạt các biện pháp hành chính nhằm giảm áp lực lên thị trường ngoại hối như giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ, mở rộng đối tượng cho vay ngoại tệ, chấm dứt việc giao dịch vàng trên các tài khoản ở nước ngoài của các NHTM và các tổchức tín dụng, đóng cửa các sàn vàng, và tăng lãi suất cơ bản lên 8%/năm. Kết quả là, trong sáu tháng đầu năm 2010 tín dụng ngoại tệ đãtăng 27% trong khi tín dụng VND chỉ tăng 4.6%. Đồng thời, kiều hối và các khoản giải ngân FDI, ODA và FII (đầu tư gián tiếp nước ngoài) đều tăng lên trong hai quý đầu của năm 2010 so với cùng kỳnăm 2009 khi còn khủng hoảng. Tất cả các yếu tố trên đã góp phần tăng cung và giảm cầu ngoại tệ nhờ đó giảm khoảng cách giữa tỷ giá thị trường tự do và tỷ giá chính thức trong quý II và nửa đầu quý III năm 2010 (xem hình 3). Tuy nhiên, các NHTM tiếp tục đặt giá ở mức trần hoặc gần với trần biên độ của tỷ giá chính thức. Và từ đầu tháng 7 năm 2010, tỷ giá thị trường tự do lại bắt đầu tăng lên dù lúc đầu chỉ tăng chậm. Những xu hướng này phản ánh kỳ vọng của thị trường ngoại hối về sự phá giá của VND. Nguyên nhân của kỳ vọng này là: (i) cung ngoại tệ tăng lệ chủ yếu do các doanh nghiệp tận dụng chênh lệch lãi suất giữa tiền gửi ngoại tệ và tiền gửi VND; (ii) nhiều biện pháp hành chính của NHNN chỉ mang tính tạm thời và có thể sẽ bị đảo ngược; (iii) lo lắng về việc cầu ngoại tệ sẽ tăng cao khi nhiều khoản vay ngoại tệ của các doanh nghiệp nhằm tận dụng chênh lệch lãi suất sẽ đến hạn; và (iv) hành vi đầu cơ của người dân do giảm sút niềm tin vào tiền đồng. Có lẽ do nhận thức được những mối đe dọa này, vào ngày 17/08/2010, NHNN đã đột ngột tăng tỷ giá thêm 2,1% lên 18.932 VND/USD mặc dù lúc đó áp lực thị trường vẫn chưa rõ ràng và khoảng cách giữa tỷ giá thị trường tự do và tỷ giá chính thức vẫn đang ở mức thấp khoảng 500 VND/USD. Ngay lập tức, các NHTM tăng tỷ giá của họ lên kịch trần. Động thái của NHNN có thể đã giúp Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Quỳnh – Nguyễn Thị Minh Tâm Trang 8 Chuyên đề môn học GVHD: Lê Đức Thiện giảm áp lực và ổn định tỷ giá nếu không có nhiều những yếu tố bất lợi diễn ra trong những tháng cuối của năm 2010. Yếu tố đầu tiên và có lẽ là yếu tố quan trọng nhất là việc giá vàng quốc tế tăng cao kỷ lục dẫn đến giá vàng trong nước còn tăng cao hơn do đầu cơ. Đồng thời, sau một vài tháng tăng với tốc độ chậm, lạm phát lại bắt đầu tăng nhanh từ tháng 9 năm 2010 khiến cho CPI của năm 2011 tăng lên 11,75% so với 7% năm 2009. Trong những tháng cuối năm 2011, thị trường ngoại hối chứng kiến sự tăng lên nhanh chóng của cầu về ngoại tệ do: (i) nhu cầu mua ngoại tệ để trả các khoản vay đáo hạn của các doanh nghiệp tận dụng chênh lệch lãi suất trong hai quý đầu năm 2011; (ii) nhu cầu nhập khẩu thường tăng cao vào cuối năm cộng thêm nhu cầu nhập khẩu vàng nhằm kiếm lời từ sự chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế, (iii) NHNN thắt chặt tín dụng ngoại tệ; (iv) lãi suất tiền gửi ngoại tệ tăng cao, lên trên 5%/năm; và (v) hoạt động đầu cơ gia tăng. Thêm vào đó, cung ngoại tệ giảm sút do các doanh nghiệp không muốn bán ngoại tệ cho ngân hàng khi họ lo lắng về khả năng NHNN sẽ tiếp tục phải phá giá VND. Kết quả của sự dư cầu ngoại tệ là tỷ giá thị trường tự do bắt đầu tăng từ tháng 9 năm 2010 lên 20.500 VND/USD vào giữa tháng 10 và lên đến mức kỷ lục là trên 21.500 VND/USD vào cuối tháng 11 (xem hình 3). Đối mặt với tình trạng này, NHNN đã phải thực hiện một loạt các biện pháp hành chính như tuyên bố tăng cung ngoại tệ cho việc nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu cho sản xuất, thắt chặt việc trao đổi cũng như nhận gửi và cho vay bằng vàng, và tăng hạn ngạch nhập khẩu vàng để làm dịu tình hình căng thẳng trên thị trường vàng. Đồng thời, lãi suất cơ bản cũng được tăng lên 9%/năm vào tháng 11. Tuy nhiên, tỷ giá thị trường tự do chỉ giảm nhẹ đôi chút và vào cuối năm 2010 và đầu năm 2011 vẫn đứng ở mức cao. Nguyên nhân thứ nhất cho tình trạng này là do hầu hết các biện pháp của NHNN, nhất là đối với thị trường vàng chỉ mang tính tạm thời. Thứ hai, dựtrữ ngoại hối đã liên tục giảm sút từ năm 2009 và do đó tuyên bố của NHNN về việc cung ngoại tệ ra thị trường không được hoàn toàn đảm bảo. Thứ ba, lạm phát tăng cao và vẫn tiếp tục đà tăng. Thứ Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Quỳnh – Nguyễn Thị Minh Tâm Trang 9 Chuyên đề môn học GVHD: Lê Đức Thiện tư, thâm hụt thương mại năm 2010 vẫn cao ở mức 12,4 tỷ đô la (đã loại trừ 2,8 tỷ nhập khẩu ròng vàng). Tình trạng này còn trầm trọng hơn do các hoạt động đầu cơ. Không thể tiếp tục duy trì tỷ giá, NHNN đã tuyên bố mức phá giá cao nhất trong lịch sự (9,3%) vào đầu tháng 2 năm 2011, nâng tỷ giá chính thức lên 20.693 VND/USD và giảm biên độ xuống còn +/-1%. Nỗ lực này đã không có kết quả ngay lập tức. Tỷ giá thị trường tự do vọt lên trên 22.100 VND/USD trong vòng vài ngày kể từ sau lần phá giá này. Vào tháng 3 năm 2011, NHNN đã siết chặt các hoạt động trên thị trường tự do, áp đặt trần lãi suất thấp cho tiền gửi bằng ngoại tệ và do đó mở rộng chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi ngoại tệ và lãi suất VND lúc đó đã lên kịch trần 14%. Do vậy, cung ngoại tệ đã tăng lên khi các doanh nghiệp và cá nhân chuyển đổi tiền gửi bằng ngoại tệ sang tiền gửi bằng VND để tận dụng chênh lệch lãi suất cao. Đồng thời, NHNN cũng tuyên bố là đã mua thêm được 3 tỷ cho dự trữ ngoại hối. Nhờ đó, cả tỷ giá thị trường tự do và tỷ giá NHTM đều giảm xuống từ tháng 4 năm 2011, và có lúc còn thấp hơn tỷ giá chính thức. Giai đoạn 2010-2011 cho thấy NHNN đã chủ động hơn so với những năm trước. Cụ thể, NHNN đã đi trước thị trường vào tháng 8 năm 2010 khi các áp lực thị trường còn tương đối thấp. Đồng thời, NHNN đã tiến hành phá giá một lần với mức độ lớn hơn (tháng 2 năm 2011) Những động thái này cho thấy NHNN đã bớt cứng nhắc và đã vận động theo thị trường tốt hơn. Tuy nhiên, NHNN vẫn sử dụng rất nhiều biện pháp hành chính thay vì tạo môi trường cho thị trường tự vận hành. Mặc dù hiện nay thị trường ngoại hối đã ổn định hơn, các bài học từ tình huống tương tự vào giữa năm 2010 cảnh báo chúng ta không nên chủ quan với thị trường. Giữa hai kỳ thị trường tương đối ôn hòa (hiện tại và giữa năm 2010) có những điểm tương tự không thểphủ nhận. Thứ nhất, các doanh nghiệp và các cá nhân chuyển đổi tiền gửi bằng ngoại tệ sang tiền gửi VND để tận dụng chênh lệch lãi suất ở cả hai giai đoạn. Thứ hai, trong cả hai giai đoạn, NHTM đều hạ tỷ giá xuống thấp hơn trần biên độ. Thứ ba, tín dụng ngoại tệ tăng nhanh hơn nhiều Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Quỳnh – Nguyễn Thị Minh Tâm Trang 10 Chuyên đề môn học GVHD: Lê Đức Thiện so với tín dụng VND trong cả hai trường hợp, đồng nghĩa với việc đến cuối năm nhu cầu ngoại tệ để trả các khoản nợ đáo hạn sẽ tăng nhanh. Thứ tư, áp lực từ nhập siêu vẫn lớn. Cuối cùng, tỷ giá thịtrường tự do và tỷ giá NHTM vẫn bám sát nhau. (mặc dù bị kiểm soát chặt chẽ, một số hoạt động tự do vẫn diễn ra.) Do đó, nếu xảy ra các yếu tố bất lợi vào quý IV năm 2011 như sự biến động lớn và đột ngột trên thị trường vàng (cả trong và ngoài nước), lạm phát cao (cả trong và ngoài nước) thì các áp lực trên thị trường ngoại hối sẽ tăng lên và có thể dẫn đến những biến động tương tự như vào cuối năm 2010. Tuy nhiên, hiện tại thị trường cũng có những điểm khác biệt, cả thuận lợi và bất lợi so với giữa năm 2010. Thứ nhất, tình hình năm 2010 có lợi hơn vì giai đoạn thị trường ngoại hối ổn định là giai đoạn lạm phát thấp liền một số tháng khiến niềm tin vào tiền đồng cao hơn hiện tại khi lạm phát đã tăng liên tục trong 8 tháng qua. Tuy nhiên hiện tại, NHNN đã tăng và vẫn tiếp tục nỗ lực tăng dự trữ ngoại hối. Điều đó có nghĩa là NHNN sẽ có lượng dự trữ ngoại hối lớn hơn để ổn định thị trường khi cần thiết. Thứ ba, nỗ lực phá giá vào tháng 2 năm 2011 (9,3%) cao gần gấp đôi so với tổng hai lần phá giá năm 2010 và điều này có nghĩa là áp lực phá giá thêm sẽ thấp hơn trong năm nay. Tuy nhiên, chúng ta cần tính đến việc lạm phát năm nay cao hơn khá nhiều so với năm 2010. Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Quỳnh – Nguyễn Thị Minh Tâm Trang 11 Chuyên đề môn học GVHD: Lê Đức Thiện  Diễn biến của tỷ giá thực Hình 4 cho thấy xu hướng biến động của của cả tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa theo quý trong thập kỷ qua. Tỷ giá danh nghĩa có xu hướng tăng trong toàn bộ thập kỷ và tăng mạnh hơn từ 2008 đến nay. Xu hướng theo thời gian được ước lượng 4 cho thấy mức độ mất giá là khoảng 0,4%/quý trong giai đoạn 2000-2007 nhưng đã tăng lên mức 1,8%/quý trong giai đoạn tiếp theo từ đầu năm 2008, tương đương với mức tăng gấp 5 lần so với giai đoạn trước. Tuy nhiên, tỷ giá thực lại có biến động khác biệt. Nó tăng nhẹ vào giai Q1/2000Q3/2003 với xu hướng thời gian bằng 0,75%. VND sau đó đã có xu hướng tăng giá mạnh thực tế trong giai đoạn Q4/2003-Q4/2008 với tốc độ 1,5%/quý (xem hình 4). Đồng thời, khoảng cách giữa hai tỷ giá ngày càng mởrộng đặc biệt là trong giai đoạn 2008-2010. So với năm 2000, chỉ số CPI (đại diện cho mức độ lạm phát trong nền kinh tế) của Việt Nam trong năm 2010 đã tăng tới xấp xỉ 123% trong khi CPI của Mỹ chỉ tăng 26,7% trong cùng giai đoạn. Tỷ giá danh nghĩa giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ chỉ tăng xấp xỉ 30,4%. Do vậy, nếu Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Quỳnh – Nguyễn Thị Minh Tâm Trang 12

No comments:

Post a Comment