Monday, March 7, 2016
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG sản XUẤT KINH DOANH tại CÔNG TY VINAMILK
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
GVHD:NGUYỄN NGỌC THỨC
II.Ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích hiệu quả
1. Ý nghĩa
- Giúp doanh nghiệp tự đánh giá mình về thế mạnh, thế yếu để củng cố phát huy hay
khắc phục, cải tiến quản lý.
- Phát huy mọi tiềm năng thị trường, khai thác tối đa các nguồn lực của doanh nghiệp
nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong kinh doanh.
- Phân tích kinh doanh giúp dự báo, đề phòng và hạn chế những rủi ro bất định trong
kinh doanh.
2. Nhiệm vụ
- Đánh giá giữa kết quả thực hiện so với kế hoạch hoặc so với tình hình thực
hiện kỳ trước, các doanh nghiệp tiêu thụ cùng ngành hoặc chỉ tiêu bình quân nội
ngành và các thông số thị trường.
- Phân tích những nhân tố nội tại và khách quan đã ảnh hưởng đến tình hình thực hiện
kế hoạch.
- Phân tích hiệu quả phương án đầu tư hiện tại và các dự án đầu tư dài hạn.
- Xây dựng kế hoạch dựa trên kết quả phân tích.
- Phân tích dự báo, phân tích chính sách và phân tích rủi ro trên các mặt hoạt động của
doanh nghiệp.
- Lập báo cáo kết quả phân tích, thuyết minh và đề xuất biện pháp quản trị các báo cáo
được thể hiện thành lời văn, biểu bảng và bằng các loại đồ thị hình tượng thuyết phục.
III. Phương pháp phân tích
NHÓM 09 DHKT7ATH
Page 8
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
GVHD:NGUYỄN NGỌC THỨC
1. Phương pháp chi tiết
Đây là phương pháp sử dụng rộng rãi trong phân tích hoạt động kinh doanh.
Mọi kết quả kinh doanh đều cần thiết và có thể chi tiết theo các hướng khác nhau.
Có 3 loại:
- Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu: Mọi chi tiết biểu hiện kết quả kinh
doanh bao gồm nhiều bộ phận cấu thành. Từng bộ phận biểu hiện chi tiết về một khía cạnh
nhất định của kết quả kinh doanh. Phân tích chi tiết các chỉ tiêu cho phép đánh giá một cách
chính xác, cụ thể kết quả kinh doanh đạt được.
- Chi tiết theo thời gian: Kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một quá
trình do nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan khác nhau, tiến độ thực hiện trong
từng đơn vị thời gian thường không đều nhau. Do đó, việc phân tích chi tiết theo thời gian
giúp chúng ta đánh giá kết quả kinh doanh được xác thực, đúng và tìm các giải pháp có hiệu
lực cho hoạt động kinh doanh. Tùy đặc tính của quá trình kinh doanh, tùy nội dung kinh tế
của chỉ tiêu phân tích và mục đích phân tích khác nhau có thể lựa chọn khoảng thời gian
cần thiết khác nhau và chỉ tiêu khác nhau để phân tích.
- Chi tiết theo địa điểm: Kết quả kinh doanh được thực hiện bởi các cửa hàng trực
thuộc doanh nghiệp phân tích chi tiết theo địa điểm giúp ta đánh giá kết quả thực hiện hạch
toán kinh tế nội bộ.
NHÓM 09 DHKT7ATH
Page 9
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
GVHD:NGUYỄN NGỌC THỨC
2. Phương pháp so sánh
So sánh là phương pháp sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định xu hướng,
múc độ biến động của chỉ tiêu phân tích. Vì vậy để tiến hành so sánh phải giải quyết
những vấn đề cơ bản như xác định số gốc để so sánh và mục tiêu so sánh.
- Xác định số gốc so sánh phụ thuộc vào mục đích phân tích cụ thể.
- Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu, số đo gốc
để so sánh là chỉ số của các chỉ tiêu ở kỳ trước, năm trước.
- Khi đánh giá mức độ biến động so với mục tiêu đã được dự kiến, chỉ số thực tế sẽ
được so sánh với mục tiêu đưa ra.
- Khi nghiên cứu khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường có thể so sánh số thực tế
với mức độ hợp đồng hoặc tổng thể nhu cầu.
Các trị số của chỉ tiêu kỳ trước, kế hoạch cùng năm trước gọi chung là kỳ gốc và thời
kỳ chọn làm so sánh gọi là kỳ phân tích.
Khi áp dụng phương pháp cần phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Đảm bảo tính thống nhất về nội dung kinh tế của các chỉ tiêu.
- Đảm bảo tính thống nhất về phương pháp các chỉ tiêu.
- Đảm bảo tính thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu về thời gian, giá trị, số
lượng,...
Mục tiêu so sánh trong phân tích kinh doanh là xác định mức biến động tuyệt đối và
mức biến động tương đối cùng xu hướng biến động các chỉ tiêu phân tích.
NHÓM 09 DHKT7ATH
Page 10
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
GVHD:NGUYỄN NGỌC THỨC
Mức biến động tuyệt đối được xác định trên cơ sở để so sánh trị số của chỉ tiêu giữa 2
kỳ phân tích và kỳ gốc hay chung hơn là so sánh giữa số phân tích và số gốc.
F = Ftt – Fkh
Ftt : giá trị kỳ thực tế
Fkh : giá trị kỳ kế hoạch
Mức biến động tương đối là kết quả so sánh giữa trị số kế hoạch phân tích với trị số
của kỳ gốc.
F% =
Ftt
x 100%
Fkh
IV. Các chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh
1. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
1.1 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ sinh lời của một đồng doanh thu, nó được tính bằng
quan hệ so sánh giữa lợi nhuận sau thuế với doanh thu.
Lợi tức sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu =
Doanh thu thuần
NHÓM 09 DHKT7ATH
Page 11
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
GVHD:NGUYỄN NGỌC THỨC
Sự thay đổi trong mức sinh lời phản ánh những thay đổi về hiệu quả, đường lối sản
phẩm hoặc loại khách hàng mà doanh nghiệp phục vụ.
1.2 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết vốn kinh doanh của doanh nghiệp sau một kỳ kinh doanh đem
lại hiệu quả như thế nào
Lợi tức sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh =
Vốn kinh doanh bình quân
Vốn kinh doanh đầu kỳ + Vốn kinh doanh cuối kỳ
Vốn kinh doanh bình quân=
2
1.3 Sức sản xuất của 1 đồng vốn
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra như thế nào.
Doanh thu
Sức sản xuất của 1 đồng vốn =
Vốn kinh doanh bình quân
NHÓM 09 DHKT7ATH
Page 12
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
GVHD:NGUYỄN NGỌC THỨC
1.4 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
.
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả của vốn tự có, hay chính xác hơn là đo lường mức
sinh lời đầu tư của vốn chủ sở hữu, được xác định bằng quan hệ so sánh giữa lợi nhuận sau
thuế và vốn chủ sở hữu.
Lợi tức sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu
Những nhà đầu tư thường quan tâm đến chỉ tiêu này bởi vì họ quan tâm đến khả
năng thu nhận được từ lợi nhuận so với vốn họ bỏ ra để đầu tư.
2. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong sản xuất kinh doanh cần các chỉ tiêu
sau:
2.1 Vòng quay vốn lưu động
Vốn lưu động của doanh nghiệp không ngừng hoạt động từ vốn tiền tệ sang vốn dự
trữ, vốn sản xuất, vốn thành phẩm rồi trả về vốn tiền tệ.
Vòng luân chuyển của vốn lưu động là tổng số thời gian vốn đó dừng lại trong lĩnh
vực sản xuất và lĩnh vực lưu thông và đó được coi là thời gian cần thiết để vốn thay đổi hình
thái của mình và chỉ khi tiêu thụ sản phẩm và thu tiền bán hàng về.
NHÓM 09 DHKT7ATH
Page 13
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment