Monday, March 28, 2016

thực trạng và giải pháp đối với tín dụng trung – dài hạn tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện nga sơn.doc

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường quan hệ tín dụng với ngân hàng; thường ưu tiên các doanh nghiệp Nhà nước. 1.1.3.2. Căn cứ theo thời hạn cho vay Cho vay ngắn hạn: thời hạn cho vay tối đa là 12 tháng và được xác định phù hợp với chu kỳ SXKD và khả năng trả nợ của khách hàng. Cho vay trung hạn: thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến trên 60 tháng. Cho vay dài hạn: từ 60 tháng trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với dự án đầu tư phục vụ đời sống. 1.1.3.3. Căn cứ theo tài sản đảm bảo Cho vay có tài sản thế chấp: là việc ngân hàng căn cứ vào tài sản của khách hàng để đảm bảo cho khả năng trả nợ của khách hàng. Loại hình này bao gồm các hình thức: cho vay cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh. Cho vay không có tài sản thế chấp: là việc ngân hàng cho vay trên cơ sở tin tưởng khách hàng, tài sản đảm bảo là uy tín, danh dự của khách hàng. Ngoài ra còn có hình thức cho vay thông qua việc bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn. 1.1.3.4. Căn cứ theo mục đích sử dụng Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất: phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, … hoặc mua sắm máy móc phục vụ hoạt động nông nghiệp. Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại dịch vụ. Cho vay tiêu dùng cá nhân: là loại vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền. Ngày nay ngân hàng còn thực hiện cho vay để trang trải chi phí thông thường của đời sống thông qua hoạt động phát hành thẻ tín dụng. 1.1.3.5. Căn cứ vào phương thức hoàn trả Cho vay hoàn trả một lần: các khoản cho vay sẽ được hoàn trả một lần vào thời gian xác định trong hợp đồng tín dụng, lãi vay có thể hoàn trả theo thỏa SVTH: Mai Thị Loan- MSSV: 10005743 Trang 6 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường thuận trong hợp đồng, chẳng hạn theo tháng, theo quý hoặc theo năm. Cho vay trả góp: việc hoàn trả được tiến hành theo định kỳ, các khoản này có thể bằng nhau hay không bằng nhau tùy theo thỏa thuận và được thực hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng. 1.1.4. Các hình thức đảm bảo tín dụng 1.1.4.1. Cầm cố Cầm cố là hình thức mà theo đó người nhận tài trợ của Ngân hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho Ngân hàng trong một thời gian nhất định. Nếu tài sản cầm cố có đăng kí quyền sở hữu thì có thể thảo thuận bên cầm cố giữ tài sản hoặc giao cho bên thứ 3. Đối tượng cầm cố có thể là các loại giấy tờ có giá, sổ tiết kiệm, ngoại tệ mạnh, kim loại quý. Đây chủ yếu là những tài sản có tính thanh khoản cao, có thể chuyển đổi thành tiền mặt bất cứ lúc nào, dễ quản lý và không chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài. Mục đích của cầm cố là để hạn chế, phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra mà người vay vốn không có khả năng trả nợ cho ngân hàng. Khi thời gian hợp đồng theo thỏa thuận đã hết nếu người vay không trả nợ được thì ngân hàng có quyền thanh lý các tài sản cầm cố, còn người vay trả đủ cả vốn và lãi cho ngân hàng thì sẽ được trả lại tài sản cầm cố. Khi tiến hành cầm cố ngân hàng và người vay phải tiến hành định giá các tài sản đó sao cho hợp lý, quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ giữa các bên để khi có tranh chấp xảy ra có thể đó là cơ sở để giải quyết. 1.1.4.2. Thế chấp Thế chấp là hình thức mà theo đó người vay phải chuyển các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu các tài sản đảm bảo sang Ngân hàng trong một thời gian nhất định. Thế chấp tài sản phải lập thành văn bản và phải có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, điều này do hai bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định. Đối tượng thế chấp thông thường là các tài sản có tính thanh khoản thấp hơn so với các tài sản cầm cố như: bất động sản, máy móc thiết bị. Điểm khác SVTH: Mai Thị Loan- MSSV: 10005743 Trang 7 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường nhau giữa cầm cố với thế chấp là tài sản thế chấp khi đã được giao cho NHTM thì người sở hữu nó vẫn có quyền sử dụng nhưng phải tránh các hoạt động làm biến dạng tài sản, còn đối với tài sản cầm cố thì người sở hữu nó không thể sử dụng cho đến lúc hết thời gian cầm cố. 1.1.4.3. Bảo lãnh Bảo lãnh là hình thức ngân hàng yêu cầu người nhận tài trợ phải có sự bảo lãnh của một cá nhân, tổ chức, hay một Ngân hàng nào đó về khoản vay. Các cá nhân, tổ chức này sẽ đứng ra trả nợ thay cho người nhận tài trợ nếu họ không có khả năng trả nợ cho ngân hàng. Điểm khác nhau cơ bản giữa hình thức này và hai hình thức trên là khá rõ ràng. Đối với cầm cố, thế chấp bắt buộc phải có sự tham gia của các tài sản trong hợp đồng còn đối với bảo lãnh thì chỉ cần uy tín và khả năng tài chính của bên nhận bảo lãnh là có thể thực hiện được. 1.2. Các vấn đề cơ bản về tín dụng trung và dài hạn trong nền kinh tế thị trường 1.2.1. Khái niệm tín dụng trung và dài hạn Tín dụng trung và dài hạn: “là hoạt động tài chính tín dụng cho khách hàng vay vốn trung và dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển SXKD, phục vụ đời sống”. Tuỳ theo từng quốc gia, từng thời kỳ mà có những quy định cụ thể của hoạt động tín dụng trung và dài hạn. Ở Việt Nam, về thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng. Hiện nay thời hạn của tín dụng trung và dài hạn được xác định như sau: Thời hạn cho vay trung hạn từ 12 tháng đến 60 tháng. Thời hạn cho vay dài hạn từ trên 60 tháng trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với các dự án phục vụ đời sống. 1.2.2. Đặc điểm tín dụng trung và dài hạn Một là, tín dụng trung và dài hạn được cấp cho khách hàng nhằm hỗ trợ cho họ trong việc mua sắm, tạo lập tài sản cố định, mở rộng SXKD. Do đó, đối SVTH: Mai Thị Loan- MSSV: 10005743 Trang 8 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường tượng cho vay chủ yếu của ngân hàng trong hình thức tín dụng này là vốn tài trợ ổn định trong các doanh nghiệp. Hai là, do gắn liền với tài sản cố định và vốn cố định của khách hàng, tín dụng trung và dài hạn của NHTM thường gắn liền với các dự án đầu tư. Tuy nhiên, với tín dụng trung hạn thường đầu tư để mở rộng, trong khi đó tín dụng dài hạn tập trung cho các dự án đầu tư theo chiều sâu. Ba là, tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại có thời gian hoàn vốn chậm. Nguồn trả tiền vay cho ngân hàng chủ yếu được lấy từ quỹ khấu hao và một phần từ lợi nhuận của chính dự án mang lại. Vì thế, khách chỉ có thể hoàn trả khoản vay có quy mô lớn thành nhiều lần khác nhau, thời hạn cho vay kéo dài trong nhiều năm. Bốn là, tín dụng trung và dài hạn thường có thời gian kéo dài, quy mô tín dụng thường lớn, nguy cơ rủi ro cao vì nền kinh tế quốc gia luôn biến động. Sự biến động này có thể tích cực hoặc tiêu cực mà chúng ta không thể biết được. Do đó mà một khoản vay dài hạn thường đem lại nhiều rủi ro hơn là một khoản vay ngắn hạn vì thời gian càng dài thì xác suất xảy ra những biến động này càng lớn hơn. Mặt khác, lãi suất của cho vay trung và dài hạn thường lớn hơn lãi suất cho vay ngắn hạn. Vì độ rủi ro cao hơn và thời gian thu hồi vốn lâu hơn. 1.2.3. Các hình thức tín dụng trung và dài hạn Tín dụng trung và dài hạn bao gồm các hình thức sau 1.2.3.1. Tín dụng theo dự án đầu tư Thứ nhất là cho vay đồng tài trợ: là hình thức cho vay của một nhóm TCTD (từ 2 TCTD trở lên) cho một dự án, do một TCTD làm đầu mối, phối hợp với các bên bên đồng tài trợ để thực hiện, nhằm phân tán rủi ro của các TCTD. Hình thức này được được áp dụng trong các trường hợp: Các dự án đầu tư đòi hỏi một khoản vốn lớn mà các ngân hàng riêng lẻ thì không đáp ứng hết được. Thông thường, ngân hàng chỉ được phép đầu tư vốn tới một mức độ nhất định so với tổng nguồn vốn của mình và không được đầu tư quá nhiều vốn vào một khoản để đảm bảo an toàn vốn tài sản. Thậm chí đối với một vài dự án ngân hàng có thể đáp ứng toàn bộ nhưng rủi ro quá lớn ngân hàng không muốn đảm SVTH: Mai Thị Loan- MSSV: 10005743 Trang 9 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường nhận hết. Do vậy, cho vay đồng tài trợ là một hoạt động tín dụng giúp ngân hàng phân tán rủi ro và có thể sử dụng tối đa nguồn vốn của họ cho đầu tư vào các dự án dài hạn. Thứ hai là cho vay trực tiếp theo dự án: đây là hình thức tín dụng trung và dài hạn phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Ngân hàng thương mại tiến hành mọi hoạt động và tự chịu trách nhiệm với từng dự án đầu tư của khách hàng mà họ đã lựa chọn để tài trợ. Chính vì vậy, công việc của ngân hàng không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn phải quán xuyến hàng loạt các công việc khác có liên quan trực tiếp đến hiệu quả của dự án như: quy hoạch sản xuất, quy trình thiết kế, quy trình công nghệ, tiêu chuẩn thiết bị máy móc, giá cả thị trường, hiệu quả đầu tư. Bởi vì việc quy định cấp một khoản tín dụng sẽ ràng buộc ngân hàng với người vay trong một số thời gian, cho nên cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc và xem xét kỹ lưỡng các rủi ro có thể xảy ra. 1.2.3.2. Tín dụng thuê mua Tín dụng thuê mua hay còn gọi là cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê. Khi hết thời hạn thuê, khách hàng có thể thuê tiếp hoặc mua lại theo các thoả thuận trong hợp đồng thuê. Trong thời hạn thuê các bên không được đơn phương huỷ bỏ hợp đồng. Về mặt pháp lý, tài sản thuê thuộc quyền sở hữu của người cho thuê, còn đi thuê chỉ được quyền sử dụng. Vì vậy, người đi thuê không được bán chuyển nhượng cho người khác. Nhưng ngược lại, họ lại được hưởng những lợi ích do việc sử dụng tài sản đó đem lại như được trích khấu hao, đồng thời cũng phải chịu phần rủi ro có liên quan đến tài sản. 1.2.3.3. Thấu chi Thấu chi tức là ngân hàng chấp thuận cho khách hàng được quyền chi vượt số dư trên tài khoản tiền gửi với những điều kiện nhất định. Chi phí cơ bản đối với người vay là lãi suất đánh vào số dư thấu chi ngày. Người vay nói chung chỉ phải trả lãi số tiền đã sử dụng vì không có yêu cầu số dư bồi thường và cho SVTH: Mai Thị Loan- MSSV: 10005743 Trang 10 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Trần Thị Hường trong giai đoạn số tiền bị lấy đi. Vì lý do đó, chi phí hữu hiệu của một khoản nợ thấu chi là lãi suất được định ra trên số dư thấu chi. 1.2.3.4. Bảo lãnh trung và dài hạn mua thiết bị trả chậm Bảo lãnh trung và dài hạn mua thiết bị trả chậm là cam kết của ngân hàng về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho chủ đầu tư - người nhập khẩu máy móc, thiết bị với thời hạn trên 12 tháng trong trường hợp khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ đối với nhà xuất khẩu. Hình thức này được áp dụng khi chủ đầu tư không đủ khả năng trả nợ ngay một lần. Họ ký hợp đồng với bên xuất khẩu xin trả nợ dần theo giá trị của thiết bị hàng năm dưới sự bảo lãnh của ngân hàng. Hình thức này rất có lợi cho chủ đầu tư vì họ không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để mua máy móc thiết bị mà khoản tiền này sẽ được trả dần hàng kỳ khi các tài sản này có khả năng sinh lời. Tuy nhiên, nếu chủ đầu tư không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho nhà xuất khẩu thì ngân hàng bảo lãnh phải đứng ra trả nợ thay cho chủ đầu tư, lúc này ngân hàng trở thành chủ nợ chính của nhà đầu tư. 1.2.4. Nguyên tắc và điều kiện vay vốn 1.2.4.1. Nguyên tắc cho vay Khách hàng vay vốn phải đảm bảo các nguyên tắc như sau: Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Phải hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Tiền vay được phát bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản theo mục đích sử dụng tiền vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. 1.2.4.2. Điều kiện vay vốn Một là, có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân Việt Nam: Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự. Cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. SVTH: Mai Thị Loan- MSSV: 10005743 Trang 11

No comments:

Post a Comment