Friday, March 18, 2016
Tăng cường quản lý nợ xấu tại chi nhánh sở giao dịch 1 ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam
sinh nợ xấu,đi kèm với việc xử lý các khoản nợ xấu đã phát sinh, từ đó làm tăng doanh
thu,giảm chi phí nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
Hoạt động tín dụng đem lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng. Tổn thất nếu xảy ra sẽ
làm giảm thu nhập, có thể thua lỗ hoặc phá sản cho ngân hàng. Vì vậy, an toàn tín dụng là
nội dung chính trong quản lý rủi ro của mọi Ngân hàng thương mại. Có hai mối liên hệ giữa
rủi ro và sinh lời trong hoạt động tín dụng. Trước khi tài trợ, mối quan hệ có thể là rủi ro
cao hoặc thấp trong ngắn hạn nhưng đều phải xác lập mối liên hệ giữa rủi ro và sinh lợi
nhằm đảm bảo tăng thu nhập cho ngân hàng trong dài hạn. Nghiên cứu và tìm ra các giải
pháp đế hạn chế rủi ro phát sinh, giải quyết và bù đắp tổn thất đã xảy ra là một trong những
nội dung chính của quản lý tín dụng, nhằm đạt được mục tiêu gia tăng thu nhập cho ngân
hàng trên cơ sở an toàn của từng khoản vay, của cả danh mục khoản vay.
1.2.2.
Nội dung quản lý nợ xấu của NHTM
Quản lý nợ xấu có ý nghĩa , vai trò vô cùng to lớn đối với công tác quản lý nói riêng
và toàn bộ hoạt động của ngân hàng nói chung. Do vậy, công tác quản lý nợ xấu phải được
xây dựng và triến khai một cách đúng đắn, khoa học và phù hợp với thực tiễn của nền kinh
tế .
1.2.2.1.
Phòng ngừa nợ xấu phát sinh
Theo Quyết định (QĐ) 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của thống đốc
NHNN về việc ban hành Quy định phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng đế xử lý rủi
ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng và theo Quyết định số
18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một
số điều của Quyết định 493, nợ xấu chiếm tỷ lệ trong khoảng từ 2
-
5% là một tỷ lệ chấp nhận được. Ngân hàng thương mại cần phải tập trung vào các biện
pháp ngăn chặn nợ xấu sau đế có được một tỷ lệ nợ xấu thấp :
-
Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng
Ngân hàng cần phải tiến hành hoạt động thẩm định đối với dự án vay, khách hàng
vay trước khi vay, trong cho vay và sau khi cho vay. Ngân hàng dùng các biện pháp đế kiếm
tra lại tính khả thi và sinh lợi của dự án,khả năng tài chính của khách hàng đi vay, đồng thời
thường xuyên theo dõi tình hình hoạt động của dự án sau khi giải ngân đế đưa ra những
nhận xét về khả năng thu hồi vốn, cả gốc và lãi từ dự án. Khi đến kì hạn phải trả nợ, nếu
thấy khách hàng cố tình chây ỳ, lừa đảo, không có thiện ý hoàn trả nợ. thì ngân hàng phải
tiến hành thu nợ. Còn nếu mà khách hàng có thiện ý trả nợ nhưng gặp khó khăn tạm thời thì
ngân hàng có thế tiến hành các biện pháp hỗ trợ như gia hạn nợ, giảm lãi suất, tiếp tục đế
khách hàng thu lợi nhuận trả ngân hàng.
Nâng cao chất lượng tín dụng, tăng cường các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi
ro phải phù hơp với khả năng huy động vốn,kiểm soát rủi ro và bảo đảm an toàn hệ thống.
Yêu cầu các tổ chức tín dụng phải phân tích, đánh giá các rủi ro có thể xảy ra trong
từng quy trình nghiệp vụ để thực hiện ngay các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn rủi ro, rà
soát, lựa chọn cán bộ có đầy đủ năng lực, trình độ, phẩm chất và đạo đức để thực hiện các
hoạt động nghiệp vụ; có cơ chế ủy quyền, quy định trách nhiệm đối với cán bộ phụ trách và
tác nghiệp. Theo chức năng nhiệm vụ của mình, các đơn vị thuộc NHNN hoàn thiện cơ chế
thông tin, báo cáo,kiểm soát và xây dựng hệ thống cảnh báo rủi ro để nâng cao khả năng
quản lý thị trường ngoại hối, phát hiện một cách kịp thời những rủi ro tiềm an để có những
biện pháp xử lý thích hợp.
Hoàn thiện cơ chế thông tin, báo cáo, kiểm soát, xây dựng hệ thống cảnh báo để
nâng cao khả năng quản lý, kiểm soát thị trường; đẩy nhanh việc xây dựng các văn bản quy
phạm pháp luật.
Đôn đốc các tổ chức tín dụng ban hành những quy định về tiêu chuẩn và yêu cầu tối
thiểu đối với hệ thống quản lý rủi ro trong thanh toán và áp dụng công nghệ thông tin để đề
xuất và triển khai đồng bộ các giải pháp phòng ngừa rủi ro; sau đó tiếp tục ban hành sửa
đổi, hoàn chỉnh chế độ kế toán cho phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế .
-
Xây dựng chiến lược hoạt động hợp lý
Chiến lược hoạt động của Ngân hàng một mặt cần phải mang lại thu nhập cho ngân
hàng, mặt khác cần phải đảm bảo khả năng thanh khoản. Ngân hàng xây dựng và triển khai
sản phẩm, dịch vụ truyền thống và hiện đại nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao của khách
hàng cũng như sự phát triển của nền kinh tế. Trong hệ thống các hoạt động của ngân hàng,
nhất là hoạt động tín dụng, hoạt động mang lại hơn 70% thu nhập cho ngân hàng,ngân hàng
cần phải xác định mức độ rủi ro tối đa, giới hạn tỷ lệ nợ xấu. Rủi ro luôn đi kèm với hoạt
động của bất kỳ ngân hàng nào, chúng ta có thể làm hạn chế tổn thất của chúng, nhưng
không thể ngăn ngừa chúng xuất hiện. Hoạt động ngân hàng nằm trong giới hạn rủi ro, đó
cũng là một thành công lớn của ngân hàng.
Ngân hàng phải xây dựng danh mục tài sản với các rủi ro có thể chấp nhận được và
danh mục nguồn vốn với chi phí thực sự hợp lý, phù hợp với khả năng thanh khoản và thực
tế ngành kinh tế,vùng kinh tế và cả nền kinh tế. Ngân hàng đưa ra những sản phẩm và dịch
vụ thu hút khách hàng với các chính sách về lãi suất, phí, khách hàng. hợp lý trên cơ sở
nghiên cứu kỹ hành vi,tâm lý khách hàng và thị trường.
Ngân hàng phải xác định và tận dụng mọi lợi thế của mình trong việc xác định chiến
lược hoạt động ngắn hạn và cả trung dài hạn đồng thời hạn chế những mặt còn chưa tốt
trong nội tại của ngân hàng. Tập trung hoạt động vào những điếm mạnh, khai thác thị
trường dựa trên những ưu điếm của mình đế không ngừng mở rộng mạng lưới phân phối,
chiếm lĩnh thị phần, nâng cao sức cạnh tranh với các đối thủ. Từ đó, chiến lược mới phát
huy hiệu quả, đem lại nguồn thu cho ngân hàng,hình ảnh ngân hàng được nhiều cá nhân tổ
chức biết đến.
Ngoài ra, ngân hàng có thế triến khai các hoạt động bằng cách kết hợp với các ngân
hàng, các định chế tài chính khác đế có thế cùng nhau khai thác khách hàng, khai thác
ngành và vùng kinh tế, khai thác thị trường dựa trên những lợi thế có sẵn của mỗi bên.
Chiến lược hoạt động có một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động của ngân
hàng. Nó xuyên suốt trong toàn hệ thống ngân hàng,nó là cương lĩnh hoạt động của tất cả
các cán bộ, công nhân viên, là kim chỉ nan dẫn đường cho từng bước đi của ngân hàng. Do
vậy, chiến lược hoạt động phải xây dựng một cách hợp lý, khoa học và thực tế.
-
Triến khai công cụ kiếm soát rủi ro mới:
Ngân hàng phải triến khai phân loại khách hàng, chấm điếm tín dụng với từng đối
tượng khách hàng dựa trên các tiêu chí định tính cũng như định lượng. Hầu hết các ngân
hàng đều có tiêu chí xếp loại và phân loại nợ theo nhóm khách hàng đế phân tích và đánh
giá rủi ro tín dụng. Nợ của khách hàng nhóm A được coi là có rủi ro thấp nhất, và nợ khách
hàng nhóm C được coi là có khả năng mất vốn cao nhất
Mặt khác, ngân hàng có thế kiếm soát tín dụng bằng giới hạn tín dụng, giải ngân
kèm chứng từ hàng hóa ... đế hạn chế tổn thất cho vay. Thực hiện các công cụ kiếm soát
mới đồng thời làm giảm chi phí hoạt động của ngân hàng tăng lên, nhưng sẽ làm giảm tổn
thất mà các rủi ro đã mang lại . Các tổn thất này lớn hơn chi phí hoạt động của các công cụ
này thì sẽ mang lại lợi nhuận, hiệu quả cho chính ngân hàng đó.
1.2.2.2.
Quản lý nợ xấu đã phát sinh:
-
Yêu cầu tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp và tái cơ cấu lại nợ
Tái cơ cấu doanh nghiệp là một quá trình triển khai tái cơ cấu hoạt động sản xuất
kinh doanh, tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp có hiện trạng kinh doanh, tài chính kém
nhưng có thể phục hồi được. Việc thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp triển khai giữa các bên
có liên quan gồm nhà kinh doanh, nhà đầu tư, ngân hàng cho vay với mục đích hồi sinh,
tăng lại giá trị cho doanh nghiệp.
Việc đề xuất xử lý nợ xấu theo giải pháp này lại chỉ được áp dụng cho các khoản nợ
nhóm 3 và nhóm 4, đối với các khách hàng để duy trì mối quan hệ. Khoản nợ có thể được
quản lý qua việc kiểm soát chặt chẽ để bên vay thực hiện các hành động để vực dậy tình
hình của họ, sửa chữa những thiết sót. Nhất là trong trường hợp khách hàng không trả nợ
lần đầu thì cần thuyết phục họ trong việc thực hiện các biện pháp cứng rắn để củng cố vị trí
của khách hàng. Ngân hàng duy trì mối quan hệ này chặt chẽ để có thể kiểm tra, theo dõi
quá trình xử lý nợ. Ngân hàng có thể áp dụng các phương pháp sau: điều chỉnh kỳ hạn nợ,
gia hạn nợ, giảm hoặc miễn một phần nợ lãi vay phải trả.
-
Chứng khoán hóa các khoản nợ xấu - Biến nợ thành chứng khoán
Chứng khoán hóa là một quá trình tập hợp lại và tái cấu trúc tài sản mà thiếu tính
thanh khoản nhưng có thu nhập bằng tiền lớn trong tương lai gồm các khoản phải thu,
khoản nợ rồi sau đó chuyển đổi chúng thành trái phiếu, sau đó đưa ra giao dịch trên thị
trường tài chính. Còn chứng khoán hóa các khoản nợ là chuyển đổi một tập hợp một cách
có chọn lọc các khoản vay có thể thế chấp được của ngân hàng mà trước đó không hề có thị
trường thứ cấp để giao dịch thành các chứng khoán khả mại, có thể giao dịch trên thị trường
thứ cấp. Ngân hàng có thể sử dụng biện pháp này để xử lý các khoản nợ xấu của mình song
cần có sự hỗ trợ phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán cùng các giao dịch mua
bán nợ.
Giải pháp này trước hết bổ sung và làm đa dạng hàng hóa được giao dịch trên sàn,
mở rộng quy mô thị trường. Chứng khoán hóa tạo ra thêm một kênh huy động vốn cho các
doanh nghiệp, mở ra nhiều cơ hội tiếp cận được thị trường vốn và làm cho giảm chi phí tài
trợ lẫn tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Biện pháp này góp phần tài trợ vốn dài hạn và có hiệu
quả qua việc phát hành có kỳ hạn dài hơn các loại tài sản liên kết so với các khoản nợ của
ngân hàng hoặc các loại tín phiếu. Mặt khác, đây còn là phương pháp góp phần làm tăng thu
nhập của tổ chức phát hành, đồng thời là công cụ đa dạng hóa rủi ro tốt nhất.
Ngoài ra, chứng khoán hóa còn có những rui ro như: những hạn chế của định mức
tín nhiệm, công bố thông tin không bảo vệ được, các tài sản không được như mong đợi, dữ
liệu không có sẵn, tính thanh khoản yếu của công cụ nợ, nhược điếm của chế độ báo cáo sản
phẩm phái sinh và sản phẩm thu nhập cố định .
-
Xử lý tài sản đảm bảo, đòi nợ bên bảo lãnh
Đối với những khoản nợ xấu nhưng không thế cơ cấu lại nợ, khách hàng không có
khả năng cải thiện tình hình tài chính, chây ỳ trong việc trả nợ . thì NHTM cần phải chủ
động xử lý các tài sản đảm bảo nợ vay kế cả bất động sản thông qua các hình thức như sau:
•
•
Bên bảo đảm trực tiếp bán tài sản cho người mua.
•
•
NHTM trực tiếp bán tài sản cho người mua.
Bán thông qua tổ chức đấu giá.
NHTM nhận chính tài sản đảm bảo đó đế thay cho việc được bảo đảm. Việc quyết
định nhận tài sản đế thay thế cần tuân theo thủ tục mua tài sản của NHTM đó.
•
NHTM có thế nhận các khoản tiền hoặc tài sản từ người thứ ba khi thế chấp quyền
đòi nợ, từ bên thứ có nghĩa vụ liên quan đến tài sản bảo đảm hoặc công ty bảo hiếm
trong trường hợp thế chấp quyền thụ hưởng tiền bảo hiếm nhân thọ. Khi đó, vẫn
phải thỏa hiệp và phải có cam kết bằng văn bản của bên bảo đảm về quyền truy đòi
cho bên bảo đảm nếu không thu hoặc không đủ từ bên thứ ba bởi lý do nào đó.
Biện pháp này thường không được mong muốn vì việc phát mại tài sản bảo đảm, đòi
nợ bên bảo lãnh thường khá phức tạp cùng nhiều thủ tục, tốn kém thời gian, khả năng thu
được nợ đầy đủ không cao, nhưng ngân hàng vẫn bắt buộc phải thực hiện đế thu hồi vốn.
Đây là một trong số các giải pháp thu hồi vốn một cách hiệu quả nhất cho các ngân hàng,
nhất là các khoản nợ bởi cơ sở pháp lý chưa đầy đủ, khách hàng lừa đảo ngân hàng.
-
Bán các khoản nợ
Việc bán các khoản nợ thường được ngân hàng sử dụng với các khoản nợ mà không
hề có tài sản đảm bảo hoặc không muốn mất thời gian đế đòi nợ. Ngân hàng sẽ chuyến
nhượng quyền đòi nợ cho một tổ chức kinh tế,cá nhân có chức năng theo quy định đế có thế
sớm thu hồi vốn của mình. Khi ngân hàng bán các khoản nợ xấu thường phải chấp nhận bán
với giá thấp hơn giá trị khoản nợ đế thu hồi vốn nhanh và không đế ảnh hưởng tới các
khoản nợ còn lại. Đế thực hiện biện pháp này sao cho hiệu quả, ngoài việc đưa các khoản
nợ xấu ra khỏi bảng tổng kết tài sản nhanh chóng thì các ngân hành thường thành lập tổ
chức có chuyên môn cao gọi là công ty quản lý nợ và khai thác tài sản(AMC). Công ty
AMC sẽ tiếp nhận các khoản nợ và thực hiện mua bán tiếp theo.
-
Bù đắp bằng quỹ dự phòng rủi ro
Quỹ dự phòng rủi ro được trích từ lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại nhằm đế
bù đắp vào những tổn thất trong hoạt động kinh doanh. Ngân hàng phải phân loại các khoản
nợ xấu đế xem loại nào được xử lý bằng quỹ dự phòng. Dự phòng rủi ro thì được tính theo
dư nợ gốc và hạch toàn vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng.
Những trường hợp được xử lý từ quỹ dự phòng là khi bên được bảo lãnh vay vốn,
khách hàng vay vốn, bên được hưởng dịch vụ thanh toán là những tổ chức bị phá sản, giải
thế hoặc cá nhân bị mất tích , bị chết hay không thế thực hiện được các nghĩa vụ thuộc
nhóm nợ có khả năng mất vốn.
-
Sự trợ giúp của Chính phủ
Đối với những khoản nợ xấu phát sinh do các khoản vay theo chính sách của Chính
phủ, ngân hàng phải trông chờ vào nguồn bù đắp của ngân sách nhà nước. Thực chất các
khoản vay theo chính sách này có thế coi như là các khoản vay có bảo lãnh của bên thứ ba
là Chính phủ. Vì vậy, ngân hàng không thế thu hồi được nợ từ khách hàng thuộc đối tượng
này thì Chính phủ phải đứng ra giải quyết cho ngân hàng.
Chính phủ có thế sử dụng ngân sách mua toàn bộ nợ xấu của ngân hàng đế xử lý dần
dần trong một số năm nhất định đế giải thoát cho ngân hàng không bị sa lầy vào khủng
hoảng của nợ xấu, giúp ngân hàng tập trung vào các hoạt động kinh doanh. Giải pháp này
có hạn chế là các thư tục, trình tự xử lý rất phức tạp, kéo dài và có sự tham gia của nhiều cơ
quan chức năng nên không thế áp dụng thường xuyên vì ngân sách có hạn , việc xử lý một
khối lượng lớn nợ xấu chi phí tốn kém làm giảm ngân sách đầu tư vào các lĩnh vực khác,
gây ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế.
1.2.3.
Nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý nợ xấu
1.2.3.1.
Nhân tố chủ quan
-
Nhân tố chủ quan từ phía ngân hàng bao gồm cơ chế quản lý tín dụng và công nghệ
ngân hàng,cơ cấu tổ chức.
Thứ nhất, cơ chế quản lý tín dụng của ngân hàng có thể được biểu hiện qua quy
trình nghiệp vụ ngân hàng,cơ cấu cho vay,đạo đức và trình độ chuyên môn của cán bộ tín
dụng, công tác kiểm tra nội bộ ngân hàng.Nếu cơ chế quản lý tín dụng được thực hiện một
cách nghiêm túc, đúng đắn thì sẽ mang lại hiệu quả cho ngân hàng. Ngược lại, công tác
quản lý không được thực hiện đúng mực tới các bộ phận, phòng ban của ngân hàng, không
tạo được sự thống nhất trong toàn bộ hệ thống sẽ làm giảm thu nhập cho ngân hàng, nợ xấu
vì thế mà tăng
Thứ hai, công nghệ ngân hàng là một hệ thống
lên.
quantrọng trong công tác
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment