Tuesday, March 8, 2016

phân tích các loại chi phí của doanh nghiệp, giải pháp tối thiểu hóa chi phí cho doanh nghiệp công ty cổ phần bia thanh hóa

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH Ví dụ, một hãng thuê mướn lao động để sản xuất một mặt hàng nào đó. Nếu vì lý do nhất định, hãng phải thu hẹp sản xuất (giảm sản lượng) và giãn thợ, thì chi phí về lao động trong tổng chi phí sản xuất một sản phẩm sẽ giảm đi. Ngược lại, khi hãng mở rộng sản xuất (tăng sản lượng) và thuê thêm lao động, chi phí về lao động trong tổng chi phí sản xuất một sản phẩm sẽ tăng lên. Biến phí có thể chia làm 2 loại: - Biến phí tỷ lệ : Là các biến phí mà sự biến động của chúng thực sự không thay đổi tỷ lệ thuận với biến động của mức độ hoạt động như: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí hoa hồng bán hàng. - Biến phí cấp bậc: Là các biến phí chỉ thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi nhiều và rõ ràng. Biến phí loại này không thay đổi khi mức độ hoạt động chưa đạt đến một giới hạn nhất định. Như vậy, biến phí cấp bậc có quan hệ tỷ lệ nhưng không tuyến tính vói mức độ hoạt động thay đổi, cho phép chi phí thay đổi để tương ứng với mức độ hoạt động mới. 2.2.4.2 Định phí Chi phí bất biến hay còn gọi là định phí đó là các khoản chi phí thường không thay đổi trong phạm vi giới hạn của quy mô hoạt động, nhưng chi phí trung bình của một đơn vị hoạt động thì thay đổi tỷ lệ nghịch với mức biến động của mức hoạt động. Chi phí cố định không thay đổi về tổng số trong phạm vi phù hợp của mức độ hoạt động, nhưng nếu mức độ hoạt động tăng vượt quá phạm vi phù hợp đó thì chi phí khấu hao máy móc thiết bị sản xuất sẽ tăng vì phải đầu tư thêm máy móc thiết bị sản xuất. Ví dụ, tiền thuê cửa hàng của một doanh nhân có thể không phụ thuộc vào doanh thu hoặc một nhà sản xuất đồ may mặc phải trả một khoản tiền thuê mặt bằng cố định, không phụ thuộc vào sản lượng quần áo ông may được. 2.2.4.3 Chi phí hỗn hợp Là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố của Chi phí bất biết và chi phí khả biến. Yếu tố bất biến của chi phí hỗn hợp thường phản ánh chi phí căn GVHD: Nguyễn Dụng Tuấn SVTH : Nhóm 05 Lớp: NCKT5BTH TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH bản, tối thiểu để duy trì và luôn luôn ở tình trạng sẵn sàng phục vụ. Yếu tố khả biến thường phản ánh chi phí thực tế hoặc chi phí sử dụng quá định mức. Một số chi phí hỗn hợp có thể kể ra là chi phí điện thoại, Fax, chi phí tiền điện dùng thắp sáng văn phòng và điện phục vụ phân xưởng sản xuất, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị dùng để giữ cho máy móc luôn ở tình trạng sẵn sàng hoạt động và chi phí bảo dưỡng máy móc khi tăng ca, sản lượng sản xuất tăng....). 2.5. Một số chi phí khác phục vụ cho việc phục vụ hoạch định kiểm soát và ra quyết định 2.5.1 Các khoản chênh lệch Phản ánh số chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản (giai đoạn trước hoạt động); chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính và tình hình xử lý số chênh lệch tỷ giá hối đoái đó. Chênh lệch tỷ giá hối đoái là chênh lệch phát sinh từ việc trao đổi thực tế hoặc quy đổi cùng một số lượng ngoại tệ sang đơn vị tiền tệ kế toán theo tỷ giá hối đoái khác nhau 2.5.2 Chi phí cơ hội Chi phí cơ hội là một khái niệm hữu ích được sử dụng trong lý thuyết lựa chọn. Nó được vận dụng rất thường xuyên và rộng rãi trong đời sống kinh tế. Chi phí cơ hội dựa trên cơ sở là nguồn lực khan hiếm nên buộc chúng ta phải thực hiện sự lựa chọn. Lựa chọn tức là thực hiện sự đánh đổi, tức là để nhận được một lợi ích nào đó buộc chúng ta phải đánh đổi hoặc bỏ qua một chi phí nhất định cho nó. Như vậy, chi phí cơ hội của một phương án được lựa chọn là giá trị của phương án tốt nhất bị bỏ qua khi thực hiện sự lựa chọn đó (và là những lợi ích mất đi khi chọn phương án này mà không chọn phương án khác; Phương án được chọn khác có thể tốt hơn phương án đã chọn). Do quy luật về GVHD: Nguyễn Dụng Tuấn SVTH : Nhóm 05 Lớp: NCKT5BTH TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH sự khan hiếm nên luôn tồn tại những sự đánh đổi khi thực hiện các sự lựa chọn. Hay nói cách khác, chi phí cơ hội luôn tồn tại. Chi phí cơ hội được sử dụng như là căn cứ để so sánh với lợi ích thu được khi thực hiện các sự lựa chọn, và đó là chi phí kinh tế. Các nhà kinh doanh và người tiêu dùng thực hiện lựa chọn trên cơ sở so sánh lợi ích thu được và chi phí bỏ ra tại mỗi điểm biên (tức là tại mỗi đơn vị hàng hóa, dịch vụ được sản xuất hoặc tiêu dùng thêm). Ví dụ trong việc lựa chọn lượng hàng hóa tiêu dùng tối ưu, chi phí cơ hội của mỗi đơn vị hàng hóa được tiêu dùng thêm là giá cả một đơn vị sản phẩm, và nó được so sánh với lợi ích cận biên thu được khi tiêu dùng thêm đơn vị sản phẩm đó. Trong việc lựa chọn lượng hàng hóa sản xuất tối ưu, chi phí cơ hội của mỗi đơn vị hàng hóa sản xuất thêm là chi phí cận biên của mỗi đơn vị sản phẩm sản xuất thêm, và được so sánh với doanh thu cận biên của đơn vị sản phẩm tăng thêm đó. Việc phân tích, so sánh lợi ích - chi phí tại điểm biên chính là nội dung của phương pháp phân tích cận biên 2.5.3 Chi phí ẩn Chi phí nảy sinh để tin chắc và đảm bảo rằng chất lượng sẽ phải thỏa mãn nhu cầu, cũng như thiệt hại nảy sinh khi chất lượng không thỏa mãn được nhu cầu Các thiệt hại do không sử dụng hết tiềm năng của các nguồn lực trong quá trình và các hoạt động. Đó là những chi phí không chất lượng hay chi phí ẩn. 2.5.4 Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được Là những chi phí mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được, có thể tăng giảm theo nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đó là những chi phí kiểm soát được còn không kiểm soát được đối với những chi phí không kiểm soát được. 3. Giải pháp tối thiểu hóa chi phí cho doanh nghiệp 3.1. Những nguyên nhân cơ bản làm tăng chi phí của doanh nghiệp: a. Nguyên nhân làm tăng chi phí nguyên vật liệu: GVHD: Nguyễn Dụng Tuấn SVTH : Nhóm 05 Lớp: NCKT5BTH TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH Do quan hệ cung – cầu trên thị trường thay đổi, khi lượng cung các nguyên vật liệu trở nên khan hiếm thì chắc chắn sẽ đẩy giá nguyên vật liệu tăng lên, điều này dẫn đến chi phí nguyên vật liệu của doanh nghiệp sẽ tăng lên. Chính sách thuế thay đổi tác động đến chỉ số giá hàng hóa, nếu thuế đánh vào các nguyên vật liệu đầu vào tăng sẽ làm cho chi phí nguyên vật liệu tăng lên. Khi doanh nghiệp thay đổi chúng loại nguyên vật liệu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm cũng sẽ làm cho chi phí nguyên vật liệu tăng, vì nếu muốn có nguyên vật liệu có chất lượng tốt thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ phải tăng giá mua nguyên vật liệu và chi phí cho nguyên vật liệu sẽ tăng. Chi phí nguyên vật liệu tăng một phần cũng do doanh nghiệp: Doanh nghiệp chưa tổ chức tốt khâu thu mua dẫn đến nhiều loại chi phí trung gian phát sinh làm cho giá nguyên vật liệu tăng lên. Lượng nguyên vật liệu bị thất thoát do công tác quản lý chưa được làm tốt cũng là một nguyên nhân dẫn đến chi phí nguyên vật liệu tăng lên. Một nguyên nhân nữa đó là máy móc kĩ thuật của doanh nghiệp, nếu máy móc thiết bị dùng cho sản xuất đã lỗi thời hay công nghệ sử dụng không còn hiệu quả và dẫn đến lượng nguyên vật liệu bị hao phí nhiều, điều này sẽ làm cho chi phí nguyên vật liệu tăng lên. b. Nguyên nhân làm tăng chi phí nhân công Do quan hệ cung – cầu lao động trên thị trường, khi mà lượng cung lao động trở nên khan hiếm, hay nói cách khác là do nhu cầu lao động của doanh nghiệp lớn mà thị trường không đáp ứng đủ các điều kiện thì chi phí lao động sẽ tăng lên, do doanh nghiệp phải bỏ ra chi phí để tìm những người phù hợp với yêu cần lao động của mình. GVHD: Nguyễn Dụng Tuấn SVTH : Nhóm 05 Lớp: NCKT5BTH TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH Chính sách lương của doanh nghiệp thay đổi, khi doanh nghiệp nâng bậc lương của công nhân lên cũng sẽ làm chi phí nhân công trực tiếp tăng theo. Năng suất lao động giảm cũng là nguyên nhân làm cho chi phí nhân công trực tiếp tăng, khi năng suất công nhân giảm thì doanh nghiệp sẽ phải thuê thêm công nhân để đảm bảo năng suất lao động và sẽ làm cho chi phí tăng lên. Chi phí đào tạo cho người lao động tăng cũng làm cho chi phí nhân công tăng theo. c. Nguyên nhân làm tăng chi phí quản lý doanh nghiệp Lương của bộ phận quản lý doanh nghiệp tăng lên làm cho chi phí tăng. Khoản dự phòng khoản thu khó đòi của doanh nghiệp tăng cũng làm cho chi phí quản lý doanh nghiệp tăng theo. d. Nguyên nhân làm tăng chi phí khấu hao tài sản cố định Số khấu hao tài sản cố định trong giá thành tăng do đầu tư vào thiết bị kỹ thuật - công nghệ mới, do tăng tỷ lệ trích khấu hao để thu hồi vốn nhanh nhằm đổi mới máy móc thiết bị kỹ thuật- công nghệ, do tỷ lệ sử dụng công suất còn thấp nên mức khấu hao tính trên đơn vị sản phẩm lớn. e. Nguyên nhân làm tăng chi phí bán hàng Chi phí bán hàng tăng do các yếu tố khách quan như tiền lương cho bộ phận bán hàng tăng, chi phí vận chuyển hàng bán tăng, chi phí sử dụng cho bộ phận bán hàng tăng và một nguyên nhân quan trọng nữa là do doanh số bán hàng tăng, vì khi doanh nghiệp muốn bán được nhiều hàng thì điều tất yếu là phải tăng quy mô của hệ thống bán hàng, chi trả lương, thưởng cho bộ phận bán hàng cũng phải tăng lên. GVHD: Nguyễn Dụng Tuấn SVTH : Nhóm 05 Lớp: NCKT5BTH TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH 3.2. Giải pháp tối thiểu hóa chi phí cho doanh nghiệp a. Giải pháp tối thiểu hóa chi phí nguyên vật liệu Để quản lý vật liệu được tốt hơn, doanh nghiệp có thể lập một sổ chi tiết về các vật liệu luân chuyển, đã xuất dùng, đặc biệt cần theo dõi lượng vật tư còn lại tại phân xưởng sản xuất nhưng cuối tháng chưa sử dụng. Đây là biện pháp để quản lý tốt hơn tài sản của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể quy định đối với nhà máy về việc quản lý vật liệu như lập phiếu báo hỏng, báo mất vật liệu…và các chứng từ liên quan khác khi hư hỏng mất mát vật liệu nhằm gắn chặt trách nhiệm của người sử dụng với công ty. Giá nguyên vật liệu trên thị trường thường xuyên biến động thất thường, chi phí vật liệu lớn nên chỉ cần một sự thay đổi nhỏ về giá trị vật liệu cũng ảnh hưởng rất lớn đến giá thành sản phẩm .Vì vậy công ty nên tiến hành lập dự phòng giảm giá nguyên vật liệu để bù đắp chi phí nguyên vật liệu tăng đột ngột gây ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh trong kỳ Giá nguyên vật liệu có xu hướng giảm, giá thành sản phẩm hoàn thành cũng có xu hướng giảm thì nhất thiết phải lập dự phòng giảm giá nguyên vật liệu nói riêng và hàng tồn kho Việc lập dự phòng phải dựa trên nguyên tắc: chỉ lập dự phòng cho những loại vật liệu tồn kho, tại thời điểm lập báo cáo tài chính, có giá thị trường thấp hơn giá trị ghi sổ. b. Giải pháp tối thiểu hóa chi phí bán hàng và quản lý Hàng hóa kinh doanh gồm nhiều chủng loại, mỗi loại mang lại mức lợi nhuận khác nhau. Một trong những biện pháp tăng lợi nhuận là phải chú trọng nâng cao doanh thu của mặt hàng cho mức lói cao. Vì vậy ta cần xác định được kết quả tiêu thụ của từng mặt hàng từ đó xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm mang lại hiệu quả cao nhất. Để thực hiện được điều đú ta sử dụng tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cho từng mặt hàng tiêu thụ sau mỗi kỳ báo cáo. GVHD: Nguyễn Dụng Tuấn SVTH : Nhóm 05 Lớp: NCKT5BTH

No comments:

Post a Comment