Friday, March 18, 2016
Thực trạng hoạt động huy động vốn tại quỹ tín dụng quảng đại
Báo cáo thực tập
GVHD: TS. Nguyễn Xuân Dương
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng
diễn ra mạnh mẽ. Nền kinh tế đã có sự liên kết chặt chẽ bởi các chủ thể và Việt
Nam cũng không nằm ngoài sự liên kết đó. Hiện nay Việt Nam đang trong tiến
trình thực hiện công đại hóa hiện đại hóa đất nước nhằm phát triển nền kinh tế
và hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Một yếu tố quan
trọng của sự phát triển đó là sự phát triển của nền kinh tế nông thôn, mà quỹ tín
dụng nhân dân là một mắc xích rất quan trọng trong tiến trình phát triển đó. Sự
lành mạnh và hiệu quả của hệ thống tín dụng ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế
nông nghiệp nông thôn.
Đây là một vấn đề cần quan tâm, một nhu cầu bức xúc mang tính thời sự.
Phần lớn bà con nông dân đang thiếu vốn để sản xuất, chi phí sản xuất thì cao
mà chu kỳ thu hoạch lại chậm nên phải đi vay vốn để bù đắp nhu cầu vốn thiếu
hụt phục vụ cho sản xuất kinh doanh và thông thường lãi suất cho vay bên ngoài
rất cao do vậy người dân vay vốn từ Quỹ tín dụng sẽ có lợi hơn nhiều, giảm
được chi phí cho quá trình sản xuất kinh doanh. Mặt khác do trình độ dân trí của
người dân chưa cao và các ngân hang thương mại lớn không mặn mà với các
món vay nhỏ nên việc giao dịch với các ngân hàng lớn gặp nhiều khókhăn. Quỹ
tín dụng nhân dân Quảng Đại là quỹ tín dụng có nhiều đóng góp trong việc đầu
tư và phát triển kinh tế xã nhà. Quỹ đã thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình
một cách thuận lợi và đạt được những hiệu quả đáng kể. Mục tiêu hoạt động của
quỹ là huy động tối đa mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các tầng lớp dân cư trong và
ngoài địa bàn hoạt động để cho vay các thành viên nhằm đáp ứng nhu cầu vốn
cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Vì vậy việc huy động vốn hết sức
quan trọng trong hoạt động tín dụng, luôn luôn đồng hành với sự tông tại và phát
triển của quỹ tín dụng. Tại Quỹ tín dụng Quảng Đại hoạt động tín dụng chiếm
gần như toàn bộ kết quả kinh doanh. Trong đó hoạt động tín dụng ngắn hạn
chiếm tỷ trọng lớn nhất quyết định lãi lỗ của Quỹ tín dụng. Và để có nguồn vốn
đáp ứng nhu cầu vay vốn của người dân, Quỹ tín dụng cần phải đẩy mạnh công
SVTH: Lê Hồng Tuyến – MSSV: 10009503
Trang: 1
Báo cáo thực tập
GVHD: TS. Nguyễn Xuân Dương
tác huy động vốn nhằm tạo lập nguồn vốn cho hoạt động tín dụng. Điều này đòi
hỏi Quỹ tín dụng cần phải có chính sách huy động vốn phù hợp với khả năng
phát triển của Quỹ tín dụng của nền kinh tế, tập quán tiêu dùng và tiết kiệm của
người dân. Do vậy huy động vốn và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả phải đi đôi
với nhau, bổ sung cho nhau.
Nhận thức được tầm quan trọng của tín dụng ngắn hạn và huy động vốn
nên tôi chọn đề tài “ Thực Trạng hoạt động huy động vốn tại Quỹ tín dụng
Quảng Đại” nhằm mở rộng hiểu biết thông qua quá trình thực tập tại Quỹ tín
dụng.
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của bài báo cáo
* Mục đích của báo cáo :
Nhằm phân tích thực trạng huy động vốn tại Qũy Tín Dụng Nhân Dân
Quảng Đại, giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013, trên cơ sở đó đưa ra các giải
pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động huy động vốn, tạo sự ổn định cho nguồn vốn
kinh doanh cho QTD.
* Đề tài có các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Làm rõ nội dung cơ bản về huy động vốn tại QTD, ý nghĩa đối với phát
triển kinh tế - xã hội, chủ yếu khu vực nông nghiệp, nông thôn.
- Phân tích thực trạng huy động vốn tại QTD một cách hiệu quả góp phần
phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn xã nhà và huyên Quảng Xương
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường huy động vốn tại QTD một cách
hiệu quả góp phần phát triển kinh tế xã hội trên địa xã Quảng Đại.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về Qũy Tín Dụng Nhân Dân Cơ Sở Quảng Đại
và nguồn vốn hoạt động của Qũy Tín Dụng Nhân Dân Cơ Sở Quảng Đại
- Tìm hiểu thực trạng huy động vốn tại Qũy Tín Dụng Nhân Dân Cơ Sở
Quảng Đại giai đoạn từ 2011 - 2013 qua các báo cáo tài chính của QTD, cũng
như các số liệu khác từ phòng kế toán của QTD .
SVTH: Lê Hồng Tuyến – MSSV: 10009503
Trang: 2
Báo cáo thực tập
GVHD: TS. Nguyễn Xuân Dương
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: tình hình phát triển hoạt động huy động vốn của
Qũy Tín Dụng Nhân Dân Cơ Sở Quảng Đại
- Phạm vi thời gian: các vấn đề liên quan đến hoạt động huy động vốn của
Qũy Tín Dụng Nhân Dân Cơ Sở Quảng Đại giai đoạn từ năm 2011 đến năm
2013.
4. Phương pháp phân tích
- Phân tích tổng hợp để thấy được tổng quan tình hình hoạt động của
QTD
- Phương pháp so sánh sự biến động của số liệu qua các năm.
+ So sánh số tuyệt đối cho thấy sự biến động về số lượng của các chỉ tiêu
+ So sánh số tương đối để tính tốc độ phát triển các chỉ tiêu năm sau so
với năm trước.
- Phương pháp đánh giá thông qua các tỷ số để đánh giá hiệu quả hoạt
động của QTD
5. Ý nghĩa nghiên cứu
- Qua quá trình tập tại cơ quan sẽ tạo điều kiện tiếp xúc với thực tế nhằm
mở rộng sự hiểu biết về thực tế.
- Củng cố lại kiến thức đã học và nâng cao kỹ năng giao tiếp của bản thân.
- Trang bị cho bản thân một nền tảng kiến thức trong công việc sau này
6 Kết cấu đề tài :
Bài gồm có 3 chương :
Chương 1 : Lý luận cơ bản về quỹ tín dụng nhân dân và hoạt động huy
động vốn của quỹ tín dụng.
Chương 2 : Thực trạng huy động vốn tại quỹ tín dụng nhân dân Quảng
Đại.
Chương 3 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao khả năng huy
động vốn tại quỹ tín dụng nhân dân Quảng Đại.
NỘI DUNG
SVTH: Lê Hồng Tuyến – MSSV: 10009503
Trang: 3
Báo cáo thực tập
GVHD: TS. Nguyễn Xuân Dương
CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUỸ TÍN DỤNG NHÂN
DÂN VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA QUỸ TÍN
DỤNG.
1.1. Tổng quan về quỹ tín dụng nhân dân
1.1.1. khái niệm quỹ tín dụng nhân dân
QTDND là tổ chức tín dụng hợp tác, do các thành viên trong địa bàn tình
nguyện thành lập và hoạt động.ở Việt Nam, theo quy định của nghị định
48/2001/NĐ - CP ngày 13/08/2001 của Chính phủ, QTDND có mục tiêu chủ
yếu là tương trợ giữa các thành viên. Nội dung của nghị định 48/2001/NĐ-CP
nêu rõ: “QTDND là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác, hoạt động theo nguyên
tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục
tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập
thể và của từng thành viên, giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống. Hoạt động của QTDND cơ sở là
phải đảm bảo bủ đắp chi phí và có tích luỹ để phát triển”
* Bản chất của Quỹ tín dụng nhân dân
QTDND là một tổ chức tín dụng hợp tác, hoạt động trong lĩnh vực tín
dụng ngân hàng, với mục tiêu là tương trợ giữa các thành viên. QTDND cơ sở là
một hình thức tổ chức kinh tế, một bộ phận của thành phần kinh tế Tập thể trong
nền kinh tế thị trường nhiều thành phần kinh tế. Nó được thành lập theo nguyên
tắc tự nguyện, bình đẳng, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động. Nói
cách khác, đó là một tổ chức kinh tế hợp tác trong lĩnh vực tín dụng.
1.1.2. Đặc điểm của quỹ tín dụng.
- QTDND cơ sở được xây dựng tại địa bàn xã, phường, liên xã, liên
phường, cụm kinh tế có đủ điều kiện, là một tổ chức không chỉ về kinh tế mà
còn là tổ chức xã hội gồm những người trên cùng địa bàn, có cùng tập quán,
quan hệ làng xóm gần gũi,huyết tộc, dòng họ, tự trọng cao. Mỗi quỹ là một đơn
vị hạch toán độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, là nơi trực tiếp giao dịch với
khách hàng và thành viên.
SVTH: Lê Hồng Tuyến – MSSV: 10009503
Trang: 4
Báo cáo thực tập
GVHD: TS. Nguyễn Xuân Dương
- QTDND là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác, hoạt động với mục tiêu hỗ
trợ thành viên về các dịch vụ tín dụng, ngân hàng. Điều đó được hiểu rằng,
QTDND không phải là tổ chức hoạt động vì mục đích tương thân, tương ái mà
chỉ là phương tiện của các thành viên để hỗ trợ họ trong các lĩnh vực như huy
động, cho vay và cung ứng các dịch vụ ngân hàng khác. Đây là mục tiêu chủ yếu
của QTDND và là điểm khác biệt nhất giữa QTDND dưới tư cách pháp nhân
hợp tác xã với các tổ chức tín dụng khác. QTDND không theo đuổi mục tiêu tối
đa hoá lợi nhuận như các tổ chức tín dụng khác mà mục tiêu của họ là tối đa hoá
lợi ích thành viên. Mặt khác chủ sở hữu, cổ đông hay thành viên của các tổ chức
tín dụng hoặc các ngân hàng khác thành lập doanh nghiệp trước tiên là để tìm
cách thu về lợi nhuận tối đa cho họ thì QTDND cơ sở được các thành viên xây
dựng để trước tiên cung cấp dịch vụ tín dụng, ngân hàng chứ không phải trước
tiên là tìm cách thu nhiều cổ tức, mặc dù họ cũng là chủ sở hữu. Điều này thể
hiện ở việc thoả mãn đồng thời nhưng trước hết là các nhu cầu của thành viên
với tư cách là khách hàng, người sử dụng các dịch vụ của QTDND cơ sở và sau
đó mới đến nhu cầu của thành viên với tư cách là chủ sở hữu, người góp vốn xây
dựng QTDND.
- QTDND để thực hiện được mục tiêu trên, phải tạo ra được các dịch vụ
tín dụng, ngân hàng, đáp ứng được các dịch vụ này cho các thành viên và đảm
bảo được hoạt động lâu dài. Muốn thực hiện được điều đó, QTDND cần định
hướng thực hiện đồng thời ba mục tiêu: hoạt động phải luôn đảm bảo khả năng
chi trả, an toàn và phải sinh lời. Các mục tiêu này gắn kết chặt chẽ, có quan hệ
khăng khít với nhau, hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau. Cho rằng QTDND hoạt động
không vì mục tiêu lợi nhuận là chưa thoả đáng mà là hoạt động không vì mục
tiêu lợi nhuận tối đa. Lợi nhuận không phải là tất cả, không phải là mục tiêu cuối
cùng của QTDND cơ sở nhưng nó lại là phương tiện để QTDND đạt được mục
tiêu cuối cùng là hỗ trợ thành viên, vì thế QTDND phải kinh doanh, phải tự hạch
toán để đủ bù đắp chi phí và có tích luỹ.
- Quản lý và điều hành hoạt động của QTDND phải tuân theo nguyên tắc
tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, các
SVTH: Lê Hồng Tuyến – MSSV: 10009503
Trang: 5
Báo cáo thực tập
GVHD: TS. Nguyễn Xuân Dương
thành viên được tham gia quản lý, dân chủ bàn bạc, đóng góp ý kiến để xác định
mục tiêu, phương hướng hoạt động, chiến lược phát triển và các quyết định cụ
thể phù hợp với thực tế của đơn vị mình. Hơn nữa phần lớn thành viên của
QTDND vừa là người gửi tiền, lại vừa là người đi vay tiền nên việc quyết định
về chênh lệch lãi suất cũng phải rất hợp lý, đảm bảo hài hoà lợi ích của thành
viên, bù đắp được chi phí và có tích luỹ. Vì vậy các chi phí dịch vụ của QTDND
tiết kiệm hơn, ít rủi ro hơn.
- Cán bộ của QTDND cơ sở là những người ở tại địa phương hoạt động
tại chỗ, đã quen với phong tục tập quán, hiểu rõ về khách hàng, thành viên nắm
bắt nhanh được chủ trương, chính sách đầu tư phát triển kinh tế tại địa phương
đó nên thuận lợi hơn nhiều so với các tổ chức tín dụng khác trên cùng địa bàn.
1.2. Chức năng và Vai trò của quỹ tín dụng đối với sự phát triển kinh tế địa
phương
1.2.1. Chức năng của quỹ tín dụng
1.2.1.1. Thực hiện chức năng huy động vốn.
Tổ chức tín dụng hợp tác là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ
ngân hàng, do các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt
động ngân hàng theo luật nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển
sản xuất kinh doanh và đời sống, khai thác và sử dụng vốn đáp ứng nhu cầu của
mọi thành viên.Thông qua chức năng này QTDND đã góp phần chuyển hoá sử
dụng nguồn vốn, đáp ứng sản xuất và lưu thông hàng hoá trong dân cư.
1.2.1.2. Chức năng cho vay.
Sử dụng vốn ở QTDND chủ yếu là cho vay thành viên, đây cũng là chức
năng cơ bản của QTDND. Với vốn huy động được từ các nguồn, QTDND cho
vay hỗ trợ các thành viên là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, trên địa bàn
nhằm góp phần thúc đẩy việc mở rộng, khôi phục ngành nghề, đáp ứng nhu cầu
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đời sống, hạn chế cho vay nặng lãi ở vùng nông
nghiệp, nông thôn. Ngoài hai chức năng, nhiệm vụ cơ bản trên, QTDND còn
thực hiện chức năng tư vấn chăm sóc thành viên. Phần lớn thành viên QTDND
là hộ sản xuất, kinh doanh mà chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, ở khu vực nông
SVTH: Lê Hồng Tuyến – MSSV: 10009503
Trang: 6
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment