Tuesday, March 22, 2016

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN TRỊ vốn QUẢN TRỊ vốn NGẮN hạn tại CÔNG TY TNHH HÙNG HƯNG

Báo cáo thực tâp GVHD: Th.S Lê Đức Thiện hạn của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau phù hợp với yêu cầu quản lý. 1.3.1.Căn cứ vai trò vốn ngắn hạntrong quá trình sản xuất kinh doanh Theo cách phân loại này vốn ngắn hạn của doanh nghiệp được phân thành 3 loại: 1.3.1.1.Vốn ngắn hạn trong khâu dự trữ Bao gồm các khoản vốn sau: Vốn nguyên vật liệu chính: Là giá trị các loại vật tư dùng dự trữ sản xuất mà khi tham gia vào sản xuất chúng cấu thành thực thể của sản phẩm. Vốn vật liệu phụ: Là giá trị các loại vật tư dự trữ dùng trog sản xuất. Các loại vật tư này không cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà nó kết hợp với nguyên vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bên ngoài của sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình sản xuất thực hiện được bình thường, thuận lợi. Vốn nhiên liệu: Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các vật tư mà khi tham gia vào quá trình sản xuất nó cấu thành bao bì bảo quản sản phẩm. Vốn vật liệu đóng gói: Là giá trị của các vật tư mà khi tham gia vào quá trình sản xuất nó cấu thành bao bì bảo quản sản phẩm. Vốn công cụ, dụng cụ: Là giá trị các công cụ, dụng cụ không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định, dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Loại vốn này cần thiết để đảm bảo sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên tục. 1.3.1.2.Vốn ngắn hạn trong khâu sản xuất Bao gồm các khoản vốn: Vốn sản phẩm đang chế tạo: Là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất kinh doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất. Vốn bán thành phẩm tư chế: Đây là phần vốn ngắn hạn phản ánh giá trị các chi phí sản xuất kinh doanh bỏ ra khi sản xuất sản phẩm đã trãi qua những công SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 6 Báo cáo thực tâp GVHD: Th.S Lê Đức Thiện đoạn sản xuất nhất định nhưng chưa hoàn thành sản phẩm cuối cùng( thành phẩm). Vốn chi phí trả trước: Là các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên chưa thể tính hết vào giá thành sản phẩm trong kỳ này mà còn được tính dần vào giá thành sản phẩm của một số kỳ tiếp theo như: chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng, lắp đặt các công trình tạm thời, chi phí về ván khuôn, giàn giáo phải lắp dùng trong xây dựng cơ bản….. Loại vốn này được dùng cho quá trình sản xuất, đảm bảo cho quá trình sản xuất của các bộ phận sản xuất trong dây truyền công nghệ được liên tục, hợp lý. 1.3.1.3.Vốn ngắn hạn trong khâu lưu thông Loại này bao gồm các khoản vốn: Vốn thành phẩm: Là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho. Vốn bằng tiền: Bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửu ngân hàng và tiền đang chuyển. Tiền là một loại tài sản của doanh nghiệp mà có thể dễ dàng chuyển đổi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ. Do vậy, trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có một lượng tiền nhất định. Các khoản đầu tư ngắn hạn: Đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn… Đây là những khoản đầu tư nhằm một mặt đảm bảo khả năng thanh toán (do tính thanh khoản của các tài sản tài chính ngắn hạn được đầu tư), mặt khác tận dụng khả năng sinh lời của tài sản tài chính ngắn hạn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn. Các khoản vốn trong thanh toán: Các khoản phải thu, các khoản tạm ứng… Chủ yếu trong các khoản mục vốn này là khoản phải thu của khách hàng, thể hiện số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng hoá, dịch vụ dưới hình thức bán trước, trả sau. Khoản mục vốn này liên quan chặt chẽ đến chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp, một trong những chiến lược quan trọng của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 7 Báo cáo thực tâp GVHD: Th.S Lê Đức Thiện Ngoài ra, một số trường hợp mua sắm vật tư, hàng hoá doanh nghiệp còn phải ứng trước tiền cho người cung cấp từ đó hình thành khoản tạm ứng. Loại vốn này dùng để dự trữ sản phẩm, bảo đảm cho tiêu thụ thường xuyên, đều đặn theo nhu cầu của khách hàng. Việc phân loại vốn ngắn hạn theo phương pháp này giúp cho việc xem xét đánh giá tình hình phân bổ của vốn ngắn hạn trong từng khâu của quá trình chu chuyển vốn ngắn hạn. Thông qua đó, nhà quản lý sẽ có những biện pháp thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu vốn ngắn hạn hợp lý, tăng tốc độ luân chuyển vốn ngắn hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn. 1.3.2.Theo các hình thái biểu hiện 1.3.2.1.Tiền và các tài sản tương đương tiền Vốn bằng tiền Các tài sản tương đương tiền: Gồm các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn. Việc tách riêng khoản mục này giúp cho doanh nghiệp dễ dàng theo dõi khả năng thanh toán nhanh của mình đồng thời có những biện pháp linh hoạt để vừa đảm bảo khả năng thanh toán vừa nâng cao khả năng sinh lời của vốn ngắn hạn. 1.3.2.2.Các khoản phải thu Nghiên cứu các khoản phải thu giúp doanh nghiệp nắm bắt chặt chẽ và đưa ra những chính sách tín dụng thương mại hợp lý, đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nâng cao doanh số bán cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. 1.3.2.3.Hàng tồn kho Là các khoản vốn ngắn hạn có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể bao gồm: Vốn nguyên, nhiên vật liệu Vốn nguyên vật liệu chính Vốn vật liệu phụ Vốn nhiên liệu Công cụ, dụng cụ trong kho SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 8 Báo cáo thực tâp GVHD: Th.S Lê Đức Thiện Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang Thành phần tồn kho Hàng gửi bán Hàng mua đang đi trên đường Đối với các doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho có vai trò như một tấm đệm an toàn giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ kinh doanh như dự trữ sản xuất – lưu thông khi mà giữa các giai đoạn này hoạt động không phải lúc nào cũng được diễn ra đồng bộ. Hàng tồn kho mang lại cho bộ phận sản xuất và bộ phận marketing của một doanh nghiệp sự linh hoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh như lựa chọn thời điểm mua nguyên vật liệu, lập kê hoạch sản xuất và tiêu thụ. Ngoài ra hàng tồn kho giúp cho doanh nghiệp tự bảo vệ trước những biến động cũng như sự không chắc chắn về nhu cầu đối với các sản phẩm của doanh nghiệp. 1.3.2.4.Tài sản ngắn hạn khác Tạm ứng Chi phí trả trước Chi phí chờ kết chuyển Các khoản thế chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn 1.3.3.Theo nguồn hình thành của vốn ngắn hạn Theo cách phân loại này, vốn ngắn hạn được chia thành 2 loại: 1.3.3.1.Nguồn vốn chủ sở hữu Là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền chi phối và định đoạt. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng: Số vốn ngắn hạn được ngân sách nhà nước cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước (đối với các doanh nghiệp nhà nước); số vốn do các thành viên (đối với loại hình doanh nghiệp công ty) hoặc do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra; số vốn ngắn hạn tăng thêm từ lợi nhuận bổ sung; số vốn góp từ liên doanh liên kết; số vốn góp huy động được qua phát hành cổ SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 9 Báo cáo thực tâp GVHD: Th.S Lê Đức Thiện phiếu. 1.3.3.2.Nợ phải trả Nguồn vốn đi vay: Là các khoản vốn ngắn hạn được hình thành từ vốn vay các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn thông qua phát hành trái phiếu. Nguồn vốn trong thanh toán: Đó là các khoản nợ khách hàng, doanh nghiệp khác trong quá trình thanh toán. Việc phân loại này giúp cho ta có thể thấy được kết cấu các nguồn hình thành nên vốn ngắn hạn của doanh nghiệp. Từ đó, doanh nghiệp có thể chủ động và đưa ra các biện pháp huy động, quản lý và sử dụng vốn ngắn hạn hiệu quả hơn. 1.4.Vai trò của vốn ngắn hạn Để tiến hành sản xuất, ngoài TSCĐ như máy móc, thiết bị, nhà xưởng….doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hoá, nguyên vật liệu…phục vụ quá trình sản xuất. Như vậy vốn ngắn hạn là điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động hay nói cách khác vốn ngắn hạn là điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh. Ngoài ra vốn ngắn hạn còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục. Vốn ngắn hạn còn là công cụ phản ánh đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp. Vốn ngắn hạn còn khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sử dụng vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy động một lượng vốn nhất định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng hoá. Vốn ngắn hạn còn giúp cho doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Vốn ngắn hạn còn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm do đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Giá trị của hàng hoá SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 10 Báo cáo thực tâp GVHD: Th.S Lê Đức Thiện bán ra được tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi nhuận. Do đó vốn ngắn hạn đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả hàng hoá bán ra. 1.5.Kết cấu vốn ngắn hạn và các nhân tố ảnh hưởng tới kết cấu vốn ngắn hạn. 1.5.1. Kết cấu vốn ngắn hạn. Kết cấu vốn ngắn hạn phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn ngắn hạn trong tổng số vốn ngắn hạn của doanh nghiệp. Vốn ngắn hạn là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, vấn đề tổ chức quản lý, sử dụng vốn ngắn hạn có hiệu quả sẽ quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay. Doanh nghiệp sử dụng vốn ngắn hạn có hiệu quả, điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tổ chức được tốt quá trình mua sắm dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phân bổ hợp lý vốn trên các giai đoạn luân chuyển để vốn luân chuyển từ loại này thành loại khác, từ hình thái này sang hình thái khác, rút ngắn vòng quay của vốn. Do đó vốn ngắn hạn của doanh nghiệp dùng để mua sắm đối tượng lao động cũng có kết cấu phức tạp và được chia thành những bộ phận chính sau: 1.5.1.1.Tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn Tiền là lượng tiền mà doanh nghiệp có được do ngân sách cấp, do tự có, hoặc do bổ sung từ lợi nhuận của doanh nghiệp hoặc do đi vay. Nó tồn tại dưới hình thức tiền mặt, tiền quỹ và tiền gữi Ngân hàng và nó có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thuận lợi và liên tục trong quá trình sản xuất kinh doanh và trong quá trình mua bán hàng hoá. Đầu tư tài chính ngắn hạn: là việc doanh nghiệp bỏ vốn để mua các chứng khoán có giá trị đầu tư góp vốn liên doanh, đầu tư bất động sản có thể thu hồi trong thời hạn không quá 1 năm hoặc một chu kỳ kinh doanh (như tín phiếu kho bạc, ký phiếu Ngân hàng , cổ phần háo của những Công ty khác) SV Thực hiện: Tạ Thị Hiền – MSSV: 10023593 Trang 11

No comments:

Post a Comment