Saturday, March 26, 2016

Tăng cường huy động tiền gửi tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh thành phố hải dương

Chuyên đề môn học GVHD: và đầu tư của mình. Còn đối với tầng lớp dân cư, họ gửi tiết kiệm tại ngân hàng nhằm thực hiện các mục tiêu an toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm đặc biệt là nhu cầu bảo toàn. Bên cạnh đó, khách hàng được phép chuyển quyền sở hữu khi sổ tiết kiệm chưa đến hạn thanh toán để bảo toàn lãi. Sổ tiết kiệm cũng được phép cầm cố vay vốn, hoặc bảo lãnh cho người thứ ba vay vốn tại bất kỳ NHTM và các TCTD khác, dùng để xác nhận khả năng tài chính cho khách hàng hoặc thân nhân đi du lịch, học tập,… ở nước ngoài. Khoản tiền gửi tiết kiệm thường có kì hạn dài nên lãi suất của khoản tiền này cũng cao hơn nhiều so với lãi suất tiền gửi giao dịch. Trong khi đó, chi phí quản lý và duy trì tài khoản cũng tương đối thấp. Lãi suất của khoản tiền này cao hơn so với lãi suất trả cho tiền gửi thanh toán, thay đổi theo từng kì hạn gửi. Số dư tiền gửi tiết kiệm ổn định theo từng kì hạn gửi. Nguồn tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng lớn và quan trọng nhất trong tổng nguồn vốn huy động, nhất là đối với các ngân hàng bán lẻ. Do đó, việc tăng cường huy động nguồn tiền này đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của NHTM và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các ngân hàng. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân hàng đều cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà, bằng cách mở rộng mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn (ví dụ như tiền gửi với các kì hạn khác nhau, tiết kiệm bằng ngoại tệ, bằng vàng…). Ngân hàng có thể mở cho mỗi người tiết kiệm nhiều trương mục tiết kiệm (hoăc là sổ tiết kiệm) cho mỗi kì hạn và mỗi lần gửi khác nhau. Sổ tiết kiệm không dùng để thanh toán tiền hàng và dịch vụ song có thể thế chấp để vay vốn.  Tiền gửi của các ngân hàng khác Khoản tiền này bao gồm tiền gửi của các ngân hàng đại lí – đây là tiền gửi mà các ngân hàng nắm giữ của nhau để thanh toán cho các dịch vụ đại lí. Ví dụ một ngân hàng tại khu trung tâm cung cấp dịch vụ xử lĩ dữ liệu, vi tính hóa hoạt động ghi sổ, tư vấn các vấn đề thuế và đầu tư, tham gia cho vay, thanh toán bù trừ và thu séc cho các tổ chức nhận tiền gửi nhỏ ở nông thôn và ở những khu xa trung tâm. Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác với qui mô không lớn, ngân hàng thương mại này có thể gửi tiền tại các ngân hàng khác. 1.1.2.2. Nguồn đi vay Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM. Tuy nhiên, khi các ngân hàng không thể cung ứng vốn kịp thời để thỏa mãn nhu cầu rút tiền của người gửi tiền hay Sinh viên: Nguyễn Thị Ngọc – MSSV: 11023493 - Lớp: CDTN13TH Chuyên đề môn học GVHD: khi có cơ hội kinh doanh tốt, nhưng lúc đó ngân hàng lại không có đủ vốn ngay để cung ứng, thì các ngân hàng sẽ đi vay. Một lí do cho s ự gia tăng nguồn vốn vay trong hoạt động ngân hàng trong những năm gần đây là không có yêu cầu dự trữ đối với hầu hết loại vốn này, điều này làm giảm chi phí của việc tài trợ bằng nguốn vốn vay. Các khoản vay trên thị trường tiền tệ thường được thực hiện trong một vài phút và vốn được chuyển ngay lập tức đến ngân hàng có yêu cầu. Tuy nhiên, có một hạn chế là lãi suất của các nguồn vốn vay biến động tương đối lớn. Nếu một ngân hàng đang gặp khó khăn về tài chính và phải cố gắng vay từ những nguồn này thì chi phí đi vay của ngân hàng có thể tăng lên nhanh chóng, hoặc những người cho vay trên thị trường tiền tệ có thể đơn phương từ chối cấp thêm tín dụng cho ngân hàng. Nguồn đi vay mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn nhưng nó đảm bảo khả năng thanh toán cho các ngân hàng, giúp cho ngân hàng hoạt động an toàn, liên tục, thông suốt. Theo đối tượng cho vay, các NHTM có thể vay của NHTW, vay của TCTD khác và vay trên thị trường vốn.  Vay Ngân hàng Trung Ương Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả, khi thiếu hụt dự trữ (dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán). Hình thức cho vay chủ yếu của ngân hàng Trung Ương (NHTW) là tái cấp vốn. Đây là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của NHTW nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các NHTM. Tái cấp vốn cung ứng kịp thời cho các ngân hàng thương mại nhằm thỏa mãn nhu cầu rút tiền của những người gửi tiền, mà nếu không khắc phục được, dễ dẫn ngân hàng tới chỗ mất khả năng thanh toán. Lúc đó, NHTW là chỗ dựa của các ngân hàng thương mại; Hoặc khi có cơ hội kinh doanh tốt, nhưng NHTM lại không có đủ vốn ngay để cung ứng, lúc đó NHTW là người giúp các NHTM không bị lỡ cơ hội kinh doanh. Tùy từng quốc gia khác nhau mà hoạt động tái cấp vốn của NHTW được thực hiện dưới các hình thức khác nhau. Có nhiều quốc gia, hành vi tái cấp vốn thường được thực hiện dưới hình thức tái chiết khấu, với nhiều quốc gia khác, NHTW thực hiện cho vay tái cấp vốn không chỉ dưới hình thức tái chiết khấu mà cón nhiều hình thức khác nữa thí dụ cho vay thế chấp hay ứng trước, cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thướng phiếu và các giấy tờ có giá khác…  Vay các tổ chức tín dụng khác Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức tín dụng Sinh viên: Nguyễn Thị Ngọc – MSSV: 11023493 - Lớp: CDTN13TH Chuyên đề môn học GVHD: khác trên thị trường liên ngân hàng. Các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do có kết dư gia tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay sẽ có thể sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn. Ngược lại, các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo khả năng thanh khoản. Như vậy, nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách, và trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ NHTW. Quá trình vay mượn rất đơn giản, ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý (hoặc NHTW). Khoản vay có thể không cần đảm bảo, hoặc được đảm bảo bằng các chứng khoán của Kho bạc. Kết quả là dự trữ của ngân hàng cho vay giảm đi và của ngân hàng đi vay tăng lên.  Vay trên thị trường vốn Giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng cũng vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu) huy động tiền gửi trung và dài hạn. Rất nhiều ngân hàng thương mại thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn dẫn đến không đáp ứng được yêu cầu cho vay trung và dài hạn. Do vậy, các khoản vay trung và dài han nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn. Thông thường đây là khoản vay không có đảm bảo, những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay mượn được nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách này; họ thường phải vay thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được bảo lãnh của Ngân hàng Đầu tư. Khả năng vay mượn còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng. Nghiệp vụ vay mượn tương đối phức tạp, Ngân hàng cần nghiên cứu kĩ thị trường để quyết đinh quy mô mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích hợp. Các vấn đề chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ... ảnh 1.1.2.3. hưởng đến khả năng vay mượn. Vốn chủ sở hữu Thuật ngữ: “Vốn chủ sở hữu (VCSH)” có một ý nghĩa đặc biệt đối với ngân hàng, dưới góc độ kinh tế đó là nguồn tiền được đóng góp bởi những người chủ ngân hàng, bao gồm chủ yếu là cổ phiếu, các khoản dự trữ và lợi nhuận không chia. Dưới góc độ quản lý, cơ cấu của vốn chủ sở hữu: vốn góp, các quỹ, các khoản vay dài hạn. Vốn góp: hình thành khi ngân hàng bắt đầu hoạt động. Tuỳ theo từng tính chất của ngân hàng: vốn của Nhà nước, các cổ đông đóng góp, các bên liên doanh góp, vốn Sinh viên: Nguyễn Thị Ngọc – MSSV: 11023493 - Lớp: CDTN13TH Chuyên đề môn học GVHD: thuộc sở hữu tư nhân. Vốn của Nhà nước thuộc sở hữu Nhà nước do ngân sách nhà nước cấp. Vốn của ngân hàng cổ phần do các cổ đông góp thông qua mua cổ phần hoặc cổ phiếu; nếu là ngân hàng liên doanh thì do các bên tham gia liên doanh đóng góp. Vốn của ngân hàng tư nhân do cá nhân ứng ra. Nguồn vốn này không phải hoàn trả cho chủ sở hữu. Chủ ngân hàng có thể tăng, giảm hoặc thay đổi cơ cấu, quyết định chính sách phân phối lợi nhuận. Các quỹ: Trong môi trường lạm phát, Vốn góp bị giảm giá. Để bảo đảm an toàn giá trị, các ngân hàng có thể trích lập quỹ bảo toàn vốn theo tỷ lệ lạm phát. Quỹ này làm gia tăng quy mô Vốn góp. Kinh doanh của ngân hàng luôn gắn liền với rủi ro. Nhiều tài sản của ngân hàng đã sinh lãi một thời gian dài có thể bị tổn thất. Do vậy, các ngân hàng đều trích lập các khoản dự trữ bù đắp tổn thất (nếu có) - Quỹ dự phòng tổn thất. Nếu tổn thất thực của ngân hàng nhỏ hơn số trích lập, VCSH sẽ gia tăng và ngược lại. Một số ngân hàng không hạch toán quỹ này vào VSCH mà vào các khoản nợ do nguồn gốc của quỹ là trích từ thu nhập trước thuế như môt khoản chi phí và khi cần sẽ được chi ra để bù đắp tổn thất. Như vậy độ lớn của quỹ phụ thuộc vào tổn thất ròng, thu nhâp của ngân hàng và tỷ lệ trích lập quỹ. Trong quá trình hoạt động, có thể thị giá cổ phiếu của ngân hàng lớn hơn mệnh giá. Khi ngân hàng phát hành cổ phiếu mới, phần chênh lệch giữa thị giá và mệnh giá cổ phiếu được ghi lại dưới tên gọi thặng dư của vốn. Do giá trị các tài sản và nợ của ngân hàng thường xuyên thay đổi theo giá thị trường, đặc biệt là các chứng khoán và bất động sản. Mặc dù chưa bán, ngân hàng cũng đánh giá lại theo giá thị trường. Những chênh lệch do đánh giá lại được đưa vào Quỹ đánh giá lại tài sản. Ngân hàng thường trích lập các quỹ từ lợi nhuận sau thuế như Quỹ phúc lợi, Quỹ khen thưởng, Quỹ đào tạo, quỹ nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới...Phần lớn, các quỹ này được sử dụng trong kì. Các khoản vay dài hạn (có điều kiện nhất định): Một số nguồn vốn trong ngân hàng thuộc dạng lưỡng tính như cổ phần ưu đãi có thời hạn, các khoản vay dài hạn bằng giấy nợ có thể chuyển đổi thành cổ phiếu. Khi phát hành, cổ phiếu ưu đãi có thời hạn mang tính chất của cổ phiếu-VCSH-song hết hạn loại cổ phiếu này bị loại khỏi VCSH. Tương tự, khi phát hành và trong khoảng thời gian xác định, giấy nợ chuyển đổi là một khoản nợ, song sau đó lại có thể chuyển thành cổ phiếu. NHTM gia tăng Sinh viên: Nguyễn Thị Ngọc – MSSV: 11023493 - Lớp: CDTN13TH Chuyên đề môn học GVHD: loại vốn này với nhiều mục đích. Phần vốn này thường bị NHTW giới hạn và kiểm soát chặt chẽ. NHTW xếp nguồn vốn này vào VCSH cấp 2 để tính tỷ lệ an toàn vốn. Theo hiệp định Base 2 về tiêu chuẩn vốn quốc tế năm 2004, thành phần VCSH vẫn được phân chia giống Basel 1: * Vốn cơ bản (Vốn cấp I) + Vốn điều lệ, vốn cổ phần tăng thêm, lợi nhuận giữ lại, quỹ dự trữ công khai từ lợi nhuận sau thuế. Loại vốn này chiếm tỷ trọng tối thiểu 50% vốn tự có của NH. * Vốn bổ sung (Vốn cấp II) + Quỹ dự trữ do đánh giá lại tài sản, quỹ dự phòng bù đắp những rủi ro được trích lập để bù đắp những rủi ro đột xuất chưa xác định được, các khoản nợ được xem như vốn. * Khi tính hệ số an toàn vốn các khoản được loại trừ khỏi vốn tự có bao gồm: Các khoản đã đầu tư vào công ty con hạch toán độc lập. Phần vốn góp vào NH và tổ chức tài chính khác. Theo quy định của luật các tổ chức tín dụng năm 2010, thành phần VCSH: Điều 4, khoản 10: Vốn tự có gồm giá trị thực của vốn điều lệ của tổ chức tín dụng hoặc vốn được cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước). Điều 139. Quỹ dự trữ 1. Hằng năm, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải trích từ lợi nhuận sau thuế để lập và duy trì các quỹ dự trữ sau đây: a) Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, vốn được cấp được trích hằng năm theo tỷ lệ 5% lợi nhuận sau thuế. Mức tối đa của quỹ này không vượt quá mức vốn điều lệ, vốn được cấp của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; b) Quỹ dự phòng tài chính; c) Các quỹ dự trữ khác theo quy định của pháp luật. 2. Tổ chức tín dụng không được dùng các quỹ quy định tại khoản 1 Điều này để trả cổ tức cho cổ đông hoặc phân chia lợi nhuận cho chủ sở hữu, thành viên góp vốn. Một cách tổng quát, vốn chủ sở hữu được chia thành: vốn cổ phần thường, vốn cổ phần ưu tiên, thặng dư vốn, lợi nhuận chưa phân phối, dự trữ vốn cổ phần (các quỹ), giấy nợ thứ cấp, quyền lợi thiểu số của ngân hàng ở chi nhánh và giấy cam kết vốn cổ phần. Vốn cổ phần thường: là VCSH hình thành khi ngân hàng bắt đầu hoạt động. Nó đo lường giá trị trên bề mặt của cổ phiếu thường. Loại VCSH này không phải hoàn trả. Sinh viên: Nguyễn Thị Ngọc – MSSV: 11023493 - Lớp: CDTN13TH Chuyên đề môn học GVHD: Chủ ngân hàng có thể tăng, giảm hoặc thay đổi cơ cấu VCSH. Vốn cổ phần ưu tiên: đo lường giá trị trên bề mặt của cổ phiếu ưu tiên. Cổ phiếu ưu tiên có thể có thời hạn vĩnh viễn hoặc có thời hạn nhất định. Nó thường ít quan trọng, chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu vốn chủ. Thặng dư vốn: là lượng tiền được trả cao hơn giá trị bề mặt của cổ phiếu bởi các cổ đông của ngân hàng, bao gồm lượng thặng dư tính theo giá trị thị trường so vơi giá trị bề mặt của cả cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu tiên và lãi lỗ bán trái phiếu chính phủ. Đây là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn trong VCSH (thường chiếm 30-40%). Lợi nhuận không chia (thu nhập giữ lại): là khoản lợi nhuận sau thuế sau khi đã trả cổ tức cho cổ đông thường và cổ đông ưu tiên. Phần này bản chất thuộc về các cổ đông song được vốn hóa nhằm mở rộng quy mô của VCSH và là khoản mục chiếm tỷ trọng rất lớn trong VCSH cùng với khoản mục thặng dư vốn. Dự trữ bất thường (dự trữ vốn cổ phần): Được sử dụng nhằm bảo vệ ngân hàng trước những tổn thất bất thường. Để bù đắp rủi ro (lạm phát, kinh doanh…) các quỹ trích lập để bảo toàn VCSH hoặc lập ra với mục đích nhất định. Các quỹ như quỹ dự phòng tổn thất (bù đắp thua lỗ), quỹ đánh giá lại tài sản (đánh giá lại của NH về tài sản và nợ theo giá trị thị trường), quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ đào tạo, quỹ nghiên cứu phát triển. Giấy nợ thứ cấp: Các nguồn tài trợ cho VCSH dưới dạng các chứng khoán nợ dài hạn có quyền đối với tài sản và thu nhập của ngân hàng (dưới dạng lưỡng tính như cổ phần ưu đãi có thời hạn, khoản vay dài hạn bằng giấy nợ có thể chuyển đổi thành cổ phiếu). Các giấy nợ này được tính vào nợ cấp 2 (phân biệt với khoản nợ cấp 1). Quyền lợi thiểu số của NH ở chi nhánh: Đây là khoản vốn không được sở hữu bởi ngân hàng lớn (ngân hàng mẹ) trong VCSH của ngân hàng nhỏ (ngân hàng con) (ví dụ: Ngân hàng mẹ sở hữu 80% vốn của ngân hàng con trong tổng vốn 100mEUR, thì khoản mục minority interest trên BCĐKT của ngân hàng mẹ là 20mEUR). Giấy cam kết vốn cổ phần: thực chất đây là các chứng khoán nợ có thể trả lại bằng việc bán cổ phiếu. Trong quá trình hoạt động, nguồn vốn chủ sở hữu mặc dù được tích lũy thêm đáng kể những vẫn chiểm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Song, vốn chủ sở hữu lại giữ một vai trò rất quan trọng. Nó góp phần bảo vệ lợi ích của người gửi tiền, tạo lòng tin đối với khách hàng và là sự đảm bảo khả năng thanh toán. Do vậy, VCSH còn được gọi là « tấm nệm » giúp chống lại rủi ro phá sản của ngân Sinh viên: Nguyễn Thị Ngọc – MSSV: 11023493 - Lớp: CDTN13TH

No comments:

Post a Comment