Thursday, March 24, 2016

Phân tích báo cáo tài chính và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại chi nhánh dược phẩm hậu lộc

Chuyên đề thực tập GVHD: Lê Đức Thiện khoản tiền biết trước, ít rủi ro về giá trị). Những luồng tiền vào ra và các khoản tương đương tiền được tập hợp thành ba nhóm: - Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh. - Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư. - Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính. d) Bản thyết minh báo cáo tài chính: Đây là một báo cáo tài chính bày những thông tin trọng yếu mà các báo cáo tài chính khác chưa thể hiện được. Nó mô tả mang tính kỹ thuật và chi tiết thông tin đã được trình bày ở ba báo cáo tài chính trên, cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu chuẩn mực kế toán. Thuyết minh báo cáo tài chính cung cấp những thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng để phân tích, đưa ra những ý kiến khách quan và phù hợp. Các báo cáo tài chính có mối liên hệ mật thiết với nhau. Mỗi sự thay đổi của chỉ tiêu trên báo cáo tài chính này sẽ hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp làm ảnh hưởng đến báo cáo kia. Trình tự đọc hiểu và kiểm tra các báo cáo tài chính được bắt đầu từ báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển, kết hợp bảng cân đối kế toán kỳ trước để đọc và kiểm tra bảng cân đối kế toán kỳ này. Để phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp, các nhà phân tích cần đọc và hiểu được các báo cáo tài chính, qua đó nhận biết được và tập trung vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp đến mục tiêu của mình. 1.2.5 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp. Để phân tích tài chính doanh nghiệp ta có thể sử dụng tổng hợp các phương pháp khác nhau trong hệ thống các phương pháp phân tích tài chính. Về mặt lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp. Nhưng trên thực tế, có ba phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ và phương pháp phân tích tương tác các hệ số tài chính. 1.2.5.1 Phương pháp so sánh Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích tài chính doanh nghiệp. 11 Sinh viên: Hoàng Việt Anh MSSV: 10027433 Chuyên đề thực tập GVHD: Lê Đức Thiện a) Điều kiện so sánh: - Phải có ít nhất hai chỉ tiêu đem so sánh. - Các chỉ tiêu đem so sánh phải đảm bảo tính so sánh được: Thống nhất về thời gian, không gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán. b) Xác định gốc so sánh; Tùy theo mục đích phân tích, gốc so sánh được chọn có thể là gốc về thời gian, không gian; có thể là gốc xác định tại thời điểm hay gốc thời kỳ; là giá trị trung bình hay giá trị tuyệt đối… c) Kỹ thuật so sánh: Kỹ thuật so sánh thường được dùng là kỹ thuật so sánh bằng số tuyệt đối và so sánh bằng số tương đối. - So sánh bằng số tuyệt đối cho thấy quy mô sự biến động của chỉ tiêu so sánh và biểu hiện ra bằng số tuyệt đối. - So sánh bằng số tương đối cho thấy tỷ lệ biến động của chỉ tiêu so sánh với gốc so sánh và được biểu hiệ ra bằng tỷ lệ phần trăm(%). d) Nội dung so sánh - So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy xu hướng thay đổi, đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - So sánh giữa số kỳ thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của doanh nghiệp. - So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp và số trung bình ngành để đánh giá tình hình tài chính và vị trí của doanh nghiệp. - So sánh chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể của nó; so sánh chiều ngang để thấy sự biến đổi của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp. 1.2.5.2 Phương pháp tỷ lệ 12 Sinh viên: Hoàng Việt Anh MSSV: 10027433 Chuyên đề thực tập GVHD: Lê Đức Thiện Đây là phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính doanh nghiệp. Phương pháp tỷ lệ hay còn được gọi là phương pháp tỷ số là phương pháp dùng các tỷ số để phân tích. Đó là các chỉ số đơn được thiết lập bằng cách so sánh chỉ tiêu này với chỉ tiêu khác. Tất nhiên ta chỉ có thể thiết lập tỷ số giữa hai chỉ tiêu có mối quan hệ với nhau và tỷ số thu được phải có ý nghĩa kinh tế nhất định. Phương pháp phân tích tỷ số được dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ số của các đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính. Sự biến đổi của các tỷ số cố nhiên là do sự biến đổi của các đại lượng tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp tỷ số yêu cầu phải xác định được ngưỡng – các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với giá trị các tỷ số tham chiếu. Điều đó xuất phát từ một đặc tính dễ nhận thấy của tỷ số đơn là khi nó đứng độc lập thì bản thân nó trở thành vô nghĩa. Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ sô tài chính phân chia thành các nhóm đặc trưng. Đó là các nhóm tỷ số về khả năng thanh toán, cơ cấu tài sản, cơ cấu vốn, nhóm tỷ số về hiệu suất hoạt động, về khả năng sinh lời. Trong mỗi trường hợp khác nhau, tùy theo giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu phù hợp để phục vụ mục tiêu phân tích của mình. 1.2.5.3 Phương pháp phân tích tương tác các hệ số Phương pháp phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hệ số còn gọi là phương pháp Dupont. Phương pháp này có thấy mối quan hệ tương hỗ giữa các tỷ lệ tài chính chủ yếu. Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp thành tích các chuỗi tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau. Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó tới tỷ số tổng hợp. 1.3 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp. 1.3.1 Phân tích khái quát về tình hình tài chính doanh nghiệp 1.3.1.1 Phân tích khái quát về tài sản và nguồn vốn a) Phân tích tình hình tài sản: Toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại một thời điểm được phản ánh trên phần tài sản của bảng cân đối kế toán. Nó không những thể hiện cơ sở vật chất, tiềm lực kinh tế của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo mà còn có khả năng 13 Sinh viên: Hoàng Việt Anh MSSV: 10027433 Chuyên đề thực tập GVHD: Lê Đức Thiện biểu hiện những dấu hiệu tương lai trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích tình hình tài sản là phân tích sự biến động các khoản mục tài sản nhằm giúp người phân tích tìm hiểu; sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của từng loại tài sản qua các thời kỳ như thế nào; sự thay đổi này bắt đầu từ những dấu hiệu chủ động hay bị động trong quá trình kinh doanh; có phù hợp với việc nâng cao năng lực kinh tế để phục vụ cho kế hoạch, chiến lược phát triển kinh doanh của doanh nghiệp hay không… b) Phân tích tình hình nguồn vốn: Nếu như toàn bộ giá trị hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo được phản ánh trên phần tài sản của bảng cân đối kế toán, thì nguồn hình thành nên chúng được phản ánh trên nguồn vốn của cùng bảng cân đối kế toán đó. Phân tích sự biến động các khoản mục nguồn vốn nhằm giúp người phân tích tìm hiểu: sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của nguồn vốn qua các thời kỳ như thế nào; sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong kinh doanh; có phù hợp với việc nâng cao năng lực tài chính hay không, tính tự chủ, khả năng khai thác nguồn vốn trên thị trường cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay không… Nhìn chung, khi phân tích khái quát tình hình tài sản và nguồn vốn, phương pháp so sánh là phương pháp chủ yếu được sử dụng, kết hợp với hai kỹ thuật phân tích dọc và phân tích ngang. Cần chú ý rằng, trong quá trình phân tích phải đồng thời xem xét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn. Mối quan hệ chặt chẽ này được thể hiện qua quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nguồn tài trợ ngắn hạn, giữa tài sản dài hạn và nguồn tài sản dài hạn. Qua đó xem xét, đánh giá xem doanh nghiệp đã đảm bảo cân bằng tài chính hay chưa. 1.3.1.2 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn. Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn dùng bảng cân đối kế toán làm tài liệu phân tích chủ yếu. Việc phân tích này cho phép nắm được tổng quát diễn biến thay đổi của nguồn vốn và sử dụng vốn trong mối quan hệ với vốn bằng tiền của doanh nghiệp, trong một thời kỳ nhất định giữa hai thời điểm lập bảng cân đối kế toán. Từ đó có thể giúp doanh nghiệp có thể định hướng cho việc huy động vốn và sử dụng vốn ở thời kỳ tiếp theo. 14 Sinh viên: Hoàng Việt Anh MSSV: 10027433 Chuyên đề thực tập GVHD: Lê Đức Thiện Về cách thức thực hiện, để phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn người ta so sánh chỉ tiêu cuối kỳ với đầu kỳ. Sự thay đổi của từng khoản mục là căn cứ xem xét và phản ánh vào một trong hai cột sử dụng vốn hay diễn biến nguồn vốn theo nguyên tắc: - Sử dụng vốn sẽ tương ứng với tăng tài sản hoặc giảm nguồn vốn. - Diễn biến nguồn vốn sẽ tương ứng với tăng nguồn vốn hoặc giảm tài sản. Diễn biến thay đổi nguồn vốn và sử dụng vốn được đặt trong mối quan hệ với vốn bằng tiền. Các khoản mục liên quan đến nguồn vốn và sử dụng vốn được sắp xếp theo hình thức một bảng cân đối. Qua bảng này người phân tích có thể xem xét và đánh giá tổng quát: số vốn tăng hay giảm trong kỳ đã được sử dụng vào việc gì và các nguồn phát sinh dẫn đến tăng giảm vốn. Trên cơ sở phân tích đó có thể định hướng huy động vốn cho kỳ tiếp theo. 1.3.1.3 Phân tích khái quát kết quả hoạt động kinh doanh. - Mục tiêu cơ bản của phân tích khái quát kết quả hoạt động kinh doanh là tìm hiểu nguồn gốc, thực trạng và xu hướng biến động của chi phí, thu nhập cũng như lợi nhuận doanh nghiệp. Quá trình phân tích tập trung vào những vấn đề cơ bản sau: - Thu nhập, chi phí có thực hay không, được tạo ra từ những nguồn nào, sự hình thành như vậy có phù hợp với chức năng hoạt động kinh doanh hay không. - Thu nhập, chi phí, lợi nhuận thay đổi như thế nào, sự thay đổi đó có phù hợp với đặc điểm chi phí, hiệu quả kinh doanh và phương hướng kinh doanh hay không. Tương tự như phân tích khái quát về tài sản và nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán. Phân tích khái quát kết quả hoạt động kinh doanh dựa trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nó cũng sử dụng phương pháp so sánh với kỹ thuật phân tích ngang và phân tích dọc làm chủ đạo trên cơ sở tìm hiểu về chính sách kế toán, đặc điểm kinh doanh, phương hướng phát triển và những tài liệu chi tiết khác của doanh nghiệp. 1.3.2 Phân tích các hệ số tài chính đặc trưng 1.3.2.1 Hệ số khả năng thanh toán 15 Sinh viên: Hoàng Việt Anh MSSV: 10027433 Chuyên đề thực tập GVHD: Lê Đức Thiện Một doanh nghiệp được đánh giá có tình hình tài chính lành mạnh trước hết phải thể hiện ở khả năng chi trả và thanh toán các khoản nợ. Khả năng đó được phản ánh khá rõ nét qua các chỉ tiêu về khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là chỉ tiêu tài chính phản ánh mối quan hệ giữa các khoản có khả năng dùng để thanh toán với các khoản phải thanh toán. Nhóm chỉ tiêu này gồm những chỉ tiêu chủ yếu sau: a) Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa tổng tài sẩn hiện có với tổng số nợ phải trả của doanh nghiệp( bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn). Hệ số này có ý nghĩa trong trường hợp doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản. Hệ số khả năng thanh toán tổng quát được tính bằng cách lấy tổng tài sản chia cho tổng nợ phải trả của doanh nghiệp. Tổng tài sản Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng nợ phải trả b) Hệ số khả năng thanh toán hiện thời hay hệ số khả năng thanh toán nhanh. Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải các khoản nợ ngắn hạn. Vì thế, hệ số này thể hiện mức độ đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Hệ số khả năng thanh toán hiện thời được tính bằng cách lấy tổng tài sản ngắn hạn chia cho số nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Tài sản ngắn han Hệ số khả năng thanh toán hiện thời = Nợ ngắn hạn c) Hệ số khả năng thanh toán nhanh. Đây là chỉ tiêu đánh giá khá chặt chẽ khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Nó được xác định bằng tài sản ngắn hạn trừ đi hàng tồn kho rồi chia cho nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. 16 Sinh viên: Hoàng Việt Anh MSSV: 10027433

No comments:

Post a Comment