Wednesday, March 16, 2016

Giải pháp thúc đẩy mở rộng cho vay kinh tế hộ sản xuất tại NHNoPTNT huyện nông cống – tỉnh thanh hóa

Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: T.S. Nguyễn Xuân Dương PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, KINH TẾ HỘ SẢN XUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI KINH TẾ HỘ SẢN XUẤT. 1.1. Tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1.1. Khái niệm Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng và sau một thời gian nhất định được quay trở lại người sở hữu một lượng có giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Tín dụng ngân hàng là sự chuyển nhượng nguồn vốn từ phía ngân hàng đến khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định, khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn phải trả theo thỏa thuận trong hợp động tín dụng đã kí kết với ngân hàng. Trong bài báo cáo này, tín dụng được hiểu là tín dụng của ngân hàng thương mại. 1.1.2. Đặc điểm Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại có 3 đặc điểm sau: Thứ nhất: Tín dụng là sự cung cấp cho khách hàng một lượng vốn trên cơ sở lòng tin. Tức là việc ngân hàng tin tưởng rằng người đi vay sử dụng vốn vay đúng mục đích và có hiệu quả, có khả năng trả được nợ gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng. Chỉ khi ngân hàng tin tưởng vào khách hàng thì hoạt động cho vay mới được thực hiện. Thứ hai: Trong hoạt động tín dụng, vốn được cung cấp cho khách hàng sử dụng một cách tạm thời, tức là có thời hạn. Việc xác định thời hạn vay dựa trên sự thỏa thuận của ngân hàng với khách hàng với căn cứ là quá trình luân chuyển vốn của đối tượng cho vay, nói cách khác là sự phù hợp giữa kì hạn vay với chu kì sản xuất, kinh doanh của khách hàng. Thứ ba: Tín dụng là tài sản của ngân hàng. Hoạt động tín dụng được thực hiện trên nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn. Ngân hàng chỉ chuyển quyền sử dụng tài sản của mình chứ không chuyển nhượng quyền sở hữu. Vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu là từ nguồn vốn huy động, ngân hàng phải bỏ ra chi phí huy động và hoàn tả theo yêu cầu của khách hàng bất cứ lúc nào. Vì thế cần phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng để đảm bảo khả năng thanh toán và SVTH: Ngô Thị Giang 3 Lớp: DHTN6TH Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: T.S. Nguyễn Xuân Dương tạo nên lợi nhuận cho ngân hàng. 1.1.3. Phân loại Có nhiều cách để phân loại tín dụng theo nhiều tiêu thức khác nhau, nhưng cách phân loại phổ biến hiện nay là phân loại theo thời hạn hoặc phân loại theo phương pháp và hình thức cấp tín dụng. 1.1.3.1. Căn cứ vào thời hạn Căn cứ vào thời hạn tín dụng, hay nói cách khác là căn cứ vào gian cho vay, tín dụng gồm có tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn. Tín dụng ngắn hạn: Là loại hình tín dụng mà ngân hàng cấp cho khách hàng với thời gian tối đa là 12 tháng, dùng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động và nhu cầu chi tiêu trong ngắn hạn của khách hàng. Tín dụng ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Tín dụng trung hạn: Theo quy định của NHNN hiện nay thì tín dụng trung hạn ứng với các khoản vay có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm. Tín dụng trung hạn được sử dụng để tài tợ cho những dự án sản xuất kinh doanh có chu kì quay vòng vốn dài. Khoản tín dụng này chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, mua sắm hoặc đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh… Tín dụng dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn lớn hơn các khoản vay trung hạn ( lớn hơn 5 năm), để đáp ứng các nhu cầu dài hạn và càn lượng vốn lớn như: đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, máy móc có thời gian khấu hao dài, mua sắm các phượng tiện vẫn tải có tải trọng lớn… 1.1.3.2. Căn cứ vào phương pháp và hình thức cấp tín dụng Theo tiêu thức này thì tiến dụng được chia thành 3 loại tương ứng với 3 phương pháp cho vay là cho vay trực tiếp, cho vay gián tiếp và cho vay bán trực tiếp. Cho vay trực tiếp: Người vay trực tiếp nhận tiền vay và trực tiếp trả nợ cho ngân hàng. Cho vay gián tiếp: Ngân hàng cấp tín dụng cho người vay qua tổ chức trung gian. Cho vay bán trực tiếp: Đây là phương thức cho vay phổ biến ở Việt Nam, vì đây là phương thức được dùng chủ yếu để cấp tín dụng cho các hộ sản xuất thông qua các tổ, nhóm vay vốn. SVTH: Ngô Thị Giang 4 Lớp: DHTN6TH Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: T.S. Nguyễn Xuân Dương 1.2. Hộ sản xuất và vai trò của kinh tế hộ sản xuất đối với nền kinh tế 1.2.1. Khái quát chung Hộ sản xuất được xác định là một đơn vị kinh tế tự chủ, được Nhà nước giao quyền quản lý và sử dụng vào sản xuất kinh doanh và được phép kinh doanh trên một số lĩnh vực nhất định do Nhà nước quy định. 1.2.1.1. Đại diện hộ sản xuất Chủ hộ là đại diện của hộ sản xuất trong các giao dịch dân sự và lợi ích chung của hộ. Cha mẹ hoặc thành viên khác đã thành niên trong gia đình cũng có thể là chủ hộ. Chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của chủ hộ trong quan hệ dân sự. Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ sản xuất xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của hộ sản xuất. 1.2.1.2. Tài sản chung của hộ sản xuất Tài sản chung của hộ sản xuất gồm tài sản do các thành viên cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng, cho chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ. Quyền sử dụng đất hợp pháp của hộ cũng là tài sản chung của hộ sản xuất. 1.2.1.3. Đặc điểm hoạt động của hộ sản xuất Đặc điểm hoạt động kinh tế của hộ sản xuất là có quy mô sản xuất nhỏ, có sức lao động, có các điều kiện về đất đai, mặt nước nhưng thường thiếu vốn, thiếu hiểu biết về khoa học, kỹ thuật, thiếu kiến thức về thị trường nên sản xuất kinh doanh còn mang nặng tính tự cấp, tự túc. Nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước và các cơ chế chính sách về vốn thì kinh tế hộ không thể chuyển sang sản xuất hàng hóa, không thể tiếp cận với cơ chế thị trường. 1.2.1.4. Trách nhiệm pháp lý của hộ sản xuất Hộ sản xuất phải chịu trách nhiệm dân sự vè việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh hộ sản xuất. Hộ sản xuất chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ. Nếu tài sản chung của hộ không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình. SVTH: Ngô Thị Giang 5 Lớp: DHTN6TH Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: T.S. Nguyễn Xuân Dương 1.2.2. Vai trò của kinh tế hộ sản xuất đối với nền kinh tế. Đóng vai trò là một đơn vị sản xuất tự chủ trong nền kinh tế, vì thế kinh tế hộ sản xuất cũng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Là động lực khai thác các tiềm năng, tận dụng các nguồn vốn, lao động, các nguồn tài nguyên đưa vào sản xuất làm tăng sản phẩm cho xã hội. Là đối tác cạnh tranh đối với kinh tế Nhà nước trong quá trình đó để cùng vận động và phát triển. Hiệu quả đó gắn liền với sản xuất, kinh doanh, tiết kiệm được chi phi, chuyển hướng sản xuất nhanh tạo được quỹ hàng hóa cho tiêu dùng và xuất khẩu tăng thu cho Ngân sách Nhà nước. Xét về lĩnh vực tài chính tiền tệ thì kinh tế hộ tạo điều kiện mở rộng thị trường vốn, thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư. Cùng với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển đã đảm bảo được an ninh lương thực quốc gia và tạo được nhiều việc làm cho người lao động, góp phần ổn định an ninh trật tự xã hội, nâng cao trình độ dân trí, sức khỏe và đời sống của người dân. Thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Kinh tế hộ được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ đã tạo ra bước phát triển mạnh mẽ, sôi động, sử dụng có hiệu quả hơn đất đai, lao động, tiền vốn, công nghệ và lợi thế sinh thái từng vùng. Kinh tế hộ nông thôn và một bộ phận kinh tế trang trại đang trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, sản xuất các ngành nghề thủ công phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. 1.3. Vai trò của tín dụng của ngân hàng thương mại đối với kinh tế hộ sản xuất Phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH-HĐH là một nội dung quan trọng trong mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã được Đảng và Nhà nước ta đề ra. Đảng và Nhà nước ta cũng xác định rõ hộ là đơn vị kinh tế cơ sở, là nền tảng để phát triển kinh tế nông thôn trong giai đoạn hiện nay. Để kinh tế hộ phát triển, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ về mặt khoa học kỹ thuật, vốn, tiệu thụ sản phẩm….Tuy nhiên trong bối cảnh Ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp, các nguồn viện trợ về vốn từ nước ngoài không ổn định và phải chịu nhiều ràng buộc chính trị khác thì tín dụng từ các ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng nhất trong việc đầu tư để phát triển kinh tế hộ. SVTH: Ngô Thị Giang 6 Lớp: DHTN6TH Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: T.S. Nguyễn Xuân Dương Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với kinh tế ộ sản xuất được thể hiện ở một số khía cạnh sau: Thứ nhất, đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh tế hộ sản xuất mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng thêm ngành nghề sản xuất. Khai thác tiềm năng về lao động, đất đai, mặt nước và các nguồn lực khác vào sản xuất. tăng sản phẩm cho xã hội, tăng thu nhập cho hộ sản xuất. Thứ hai, tạo điều kiện cho kinh tế hộ sản xuất tiếp cận và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, tiếp cận với cơ chế thị trường và từng bước điều tiết sản xuất phù hợp với xu hướng chung của thị trường. Thứ ba, tín dụng góp phần thúc đẩy kinh tế hộ sản xuất chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa, góp phần thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn. Thứ tư, tín dụng thức đẩy các hộ gia đình tính toán, hạch toán trong sản xuất kinh doanh, tính toán lựa chọn đối tượng đầu tư để đạt hiệu quả cao nhất. tạo việc làm cho nhiều đối tượng lao động. Thứ năm, góp phần hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi trong nông thôn, tình trạng bán lúa non ở các hộ sản xuất nông nghiệp,… 1.4. Một số chính sách, cơ chế về tín dụng đối với hộ sản xuất của ngân hàng thương mại Xác định vai trò đặc biệt quan trọng của nông nghiệp nông thôn trong nền kinh tế đất nước, Chính phủ, các ngành, các cấp và ngành ngân hàng có nhiều chủ trương, chính sách, cơ chế chỉ đạo đầu tư cho ngành nông nghiệp và nông thôn nói chung, cũng như đầu tư cho hộ sản xuất nói riêng. Ngày 30/03/1999 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 67/1999/QĐ- TTg về một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn. Ngày 16/04/1999 Thống đốc Ngân hàng nhà nước có văn bản số 320/CV - NHNN14 hướng dẫn thực hiện một số nội dung trong quyết định 67 của Thủ tướng Chính phủ và giao cho NHNo&PTNT Việt Nam chịu trách nhiệm chủ yếu tổ chức thực hiện. Tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam có văn bản 791/NHNo-06 về việc thực hiện một số chính sách tín dụng nhằm triển khai cụ thể các chủ trương lớn của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Ngày 15/08/2000 Ngân hàng Nhà nước có quyết định số 284/2000/QĐ- NHNN1 Quy định cơ chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách SVTH: Ngô Thị Giang 7 Lớp: DHTN6TH Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: T.S. Nguyễn Xuân Dương hàng. Ngày 18/01/2001 NHNo&PTNT Việt Nam có quyết định số 06/QĐ-HĐQT tiếp tục triển khai cụ thể QĐ284 của Ngân hàng Nhà nước về quy định cho vay đối với khách hàng. Ngày 15/06/2010, Chủ tịch HĐQT của NHNo&PTNT Việt Nam ra quyết định 666/QĐ-HĐQT-TDHO thay thế các văn bản trước đó quy định về việc cho vay đối với khách hàng trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam. Những nội dung chủ yếu của các văn bản nói trên được thể hiện như sau: 1.4.1. Nguồn vốn cho vay Nguồn vốn cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn bao gồm: - Vốn ngân hàng huy động - Vốn Ngân sách Nhà nước - Vốn vay các tổ chức tài chính Quốc tế và nước ngoài Để phục vụ chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn của Chính phủ, các NHTM có thể phát hành trái phiếu với lãi suất cao hơn lãi suất huy động bình thường cùng thời điểm, mức lãi suất cao hơn tối đa 1%/năm. Có thể huy động bằng vàng để chuyển đổi số vàng huy động được thành đồng Việt Nam để cho vay. 1.4.2. Đối tượng cho vay NHNo&PTNT Việt Nam và các TCTD khác huy động và cân đối nguồn vốn, đáp ứng yêu cầu tăng khối lượng tín dụng cho nhu cầu phát triển nông nghiệp và nông thôn bao gồm: Chi phí sản xuất cho trồng trọt, chăn nuôi như: vật tư, phân bón, cây, con giống, thuốc trừ sâu, trừ cỏ, thuốc phòng, chữa bệnh cho vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, chi phí bơm nước tưới, tiêu nước làm thủy lợi nội đồng…..Chi phí nuôi trồng thủy sản (nước ngọt, nước lợ) như: cải tạo ruộng nuôi, lồng nuôi, con giống, thức ăn, thuốc phòng, chữa bệnh….Chi phí đánh bắt hải sản như: đầu tư đóng mới, sữa chữa tàu thuyền, công cụ, dụng cụ đánh bắt….. Vốn đáp ứng quá trình chế biến, tiêu thụ trong nước, xuất khẩu nông, lâm, thủy, hải sản và muối. Vốn phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn. Mua sắm công cụ máy móc, trang thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp, nông thôn như: máy cày, máy bừa, máy bơm nước, máy gặt, máy tuốt lúa, máy xay xát, máy sấy, thiết bị chế biến nông sản,……. Mua sắm phương tiện vận chuyển hàng hóa trong nông nghiệp, xây dựng chuồng SVTH: Ngô Thị Giang 8 Lớp: DHTN6TH

No comments:

Post a Comment