Saturday, March 26, 2016
TẠO lập và sử DỤNG vốn CHO NGƯỜI NGHÈO tại VIỆT NAM, THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TH.S. Nguyễn Thị Phương
thế giới có tỷ lệ nghèo đói tập trung ở nông thôn trên 70% thì ở nước ta điều đó lại càng
cao hơn chiếm khoảng 90% .
Mặc dù từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đến nay nhất là từ sau khi có nghị
quyết 10, hộ nông dân được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ đã thúc đẩy sản xuất nông
nghiệp đạt được kết quả cao hơn hẳn những thời kỳ trước đó. Nhờ vậy đời sống người
nông dân và kinh tế nông thôn nước ta dần đi vào thế ổn định và phát triển. Tuy nhiên
thừa nhận và khuyến khích các hộ phát triển sản xuất hàng hoá, tất yếu dẫn đến phát triển
không đồng đều giữa các hộ mà trước đây bị che đậy mờ đi bởi cơ chế tập trung bao cấp.
Tình trạng đói nghèo không chỉ còn là cá biệt mà đã trở thành hiện tượng phổ biến và có
xu hướng gia tăng ở nông thôn và các vùng khó khăn. Ngay cả những vùng đô thị, tình
trạng thất nghiệp do thiếu vốn và thiếu điều kiện làm ăn đã và đang làm phát sinh một bộ
phận hộ gia đình nghèo túng. Khoảng chênh lệch thu nhập giữa các phân tầng xã hội
ngày một nới rộng. Cùng với công cuộc đổi mới, thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước
mạnh" do Đảng ta khởi xướng, một bộ phận dân cư vươn lên làm ăn có hiệu quả trong cơ
chế thị trường và trở nên giàu có. Song bên cạnh đó không ít người do nhiều nguyên
nhân đã chấp nhận vào ngưỡng nghèo đó. Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta là liên tục
phấn đấu đưa toàn xã hội đến "công bằng văn minh", vì vậy Nhà nước đã và đang tập
trung chỉ đạo thực hiện bằng nhiều biện pháp tác động khác nhau để những vùng nghèo,
dân cư có đời sống khó khăn vươn lên đạt tới sự công bằng nhất định trong xã hội. Song
sự tác động của Nhà nước không bao giờ cũng đạt được như mong muốn. Tình trạng
nghèo đói ở nước ta vẫn tồn tại, thậm chí đã trở thành hiện tượng xã hội gay gắt.
Đã đến lúc các quốc gia, hơn nữa toàn thế giới coi giải quyết vấn đề nghèo đói như
một chiến lược toàn cầu. Bước vào thiên niên kỷ mới, đói nghèo vẫn là một trong những
thách thức lớn nhất của nhân loại. Hướng tới tương lai, cộng đồng quốc tế tiếp tục cam
kết thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, phấn đấu đến năm 2015 giảm 1/2 số người
nghèo trên thế giới. Hội nghị cũng kêu gọi cộng đồng quốc tế đẩy mạnh chiến dịch "tấn
công vào đói nghèo" và khuyến nghị các quốc gia cần có chiến lược toàn diện về xoá đói
giảm nghèo. Đặc biệt tại hội nghị thiên niên kỷ đầu tháng 9/2000 của Liên Hợp quốc tại
Oasinhtơn (Mỹ), một lần nữa khẳng định chống đói nghèo là một trong những mục tiêu
ưu tiên của cộng đồng quốc tế trong thế kỷ XXI. Tại hội nghị này, chủ tịch Trần Đức
Lương, trưởng đoàn đại biểu Việt Nam đã đề nghị lấy thập niên đầu tiên của thế kỳ XXI
Nhóm 09 - Lớp: DHTN5TH
Trang 11
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TH.S. Nguyễn Thị Phương
làm thập niên dành ưu tiên cho xoá đói giảm nghèo trên phạm vi toàn thế giới và đã được
hội nghị đồng tình cao
Như vậy rõ ràng, giải quyết vấn đề nghèo đói ở nước ta không chỉ là đòi hỏi về mặt
xã hội (bao gồm chính trị, xã hội, đạo đức) mà còn đòi hỏi của vấn đề kinh tế. Bởi vì nền
kinh tế không thể tăng trưởng một cách bền vững, mỗi khi trong xã hội vẫn tồn tại lớp
người nghèo đói khá đông.
1.3.2. Những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo.
Để có những giải pháp xoá đói giảm nghèo hữu hiệu thì trước hết phải tìm hiểu
nguyên nhân dẫn đến nghèo đói. Nếu xét về nguồn gốc thì nghèo đói do nhiều nguyên
nhân dẫn đến, có nguyên nhân tác động trực tiếp nhưng cũng có nguyên nhân chỉ là tác
nhân gián tiếp gây ra nghèo đói mà thôi. Trong "chuỗi" nguyên nhân gây ra nghèo đói
phải kể đến các nguyên nhân sau:
1.3.2.1. Nguyên nhân do thiếu vốn, thiếu kiến thức và kỹ thuật làm ăn
Vốn, kỹ thuật và kiến thức làm ăn là chìa khoá để người nghèo vượt khỏi ngưỡng
nghèo đói. Do không đáp ứng đủ vốn nhiều người rơi vào thế luẩn quẩn, làm không đủ ăn
phải đi làm thuê, vay nặng lãi, bán lúa non mong đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày
nhưng nguy cơ nghèo đói vẫn thường xuyên đe doạ họ. Mặt khác do thiếu kiến thức làm
ăn nên họ chậm đổi mới tư duy làm ăn, bảo thủ với phương pháp sản xuất kém hiệu quả.
Thiếu kiến thức và kỹ thuật làm ăn là một lực cản lớn nhất hạn chế tăng thu nhập và cải
thiện đời sống của hộ gia đình nghèo.
1.3.2.2. Nguyên nhân do sinh đẻ nhiều nhưng đất đai canh tác lại ít
Mặc dù đã có cuộc vận động thực hiện chương trình sinh đẻ có kế hoạch nhưng
nhìn chung ở vùng nông thôn, miền núi, vùng dân tộc tỷ lệ sinh đẻ giảm xuống không
đáng kể, thậm chí có nơi không giảm và tiếp tục gia tăng. Sinh đẻ nhiều dẫn đến trong
một hộ gia đình người làm thì ít mà người ăn theo thì nhiều do đó thu nhập bình quân
thấp, đời sống khó khăn lại càng khó khăn hơn. Mặt khác diện tích đất canh tác có hạn,
hệ số sử dụng đất ở các vùng núi, vùng thiên tai không được nâng lên sản lượng thu
hoạch bình quân có xu hướng giảm xuống thì điều tất yếu sẽ dẫn đến nghèo đói.
1.3.2.3. Nguyên nhân do thiếu việc làm.
Thiếu việc làm bao giờ cũng là yếu tố tiềm ẩn dẫn đến nghèo đói. Đặc biệt đối với
các vùng đô thị thì thất nghiệp là đồng hành với sự nghèo đói. Nói như vậy không có
nghĩa là tình trạng thiếu việc làm trở thành căn nguyên nghèo đói không xảy ra ở nông
Nhóm 09 - Lớp: DHTN5TH
Trang 12
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TH.S. Nguyễn Thị Phương
thôn. Mà thiếu việc làm theo mùa và không đủ công ăn việc làm cho nông dân đang luôn
là mối đe doạ một bộ phận hộ gia đình sản xuất nông nghiệp tụt xuống bờ vực nghèo đói.
Bởi vậy tạo ra việc làm mới bằng các nghề phụ ở nông thôn nếu được giải quyết sẽ làm
tăng thu nhập cho dân cư và tất yếu là sẽ giảm được nghèo đói.
Đối với nước ta nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng XHCN hay giả định một định hướng hoàn mỹ hơn nhiều thì
khuyết tật của cơ chế thị trường, tự nó không thể mất đi được, thậm chí vẫn thể hiện rất
gay gắt. Ngay trên thị trường sức lao động, nếu như trước đây con người sinh ra hầu như
đã được đảm bảo về việc làm, thì ngày nay muốn có việc làm phải qua cạnh tranh. Những
người không có khả năng cạnh tranh do sức khoẻ, tàn tật, già yếu, thiếu kiến thức... thì
chắc chắn sẽ rơi vào tình trạng không có lối thoát và những người "gặt hái" chiến bại
trong cạnh tranh cũng phải chịu đựng cuộc sống bếp bênh, nghèo đói. Sự tồn tại của thất
nghiệp, nhất là trong lứa tuổi thanh niên không những là nguyên nhân gây nghèo đói cho
gia đình mà còn có thể gây nhiều tiêu cực cho xã hội.
Tình trạng thiếu việc làm đang là thách thức cho mọi quốc gia trong việc thực hiện
mục tiêu xoá đói giảm nghèo. Ở nước ta để thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo do
Đảng ta khởi xướng thì giải quyết việc làm đang là vấn đề kinh tế xã hội luôn nằm trong
chương trình nghị sự của chính phủ.
1.3.2.4. Nguyên nhân từ sức khoẻ.
Sức khoẻ yếu và do đó thiếu sức lao động với tình trạng đói nghèo thường có mối
quan hệ tỷ lệ thuận. Nghèo nàn đói rách làm cho sức khoẻ suy giảm, ngược lại sức khoẻ
yếu và thiếu sức lao động là nguyên nhân của sự nghèo khổ. Một khi con người không đủ
sức lao động, thường dẫn đến khó khăn trong cuộc sống và tất yếu nghèo đói sẽ diễn ra.
Đến lượt nó khi nghèo đói đã ngự trị thì không thể cải thiện được sức khoẻ tốt hơn. Cái
vòng luẩn quẩn giữa sức khoẻ và nghèo đói đòi hỏi phải giải quyết cả hai vấn đề là: giảm
nghèo đói và cải thiện sức khoẻ. Để cải thiện được sức khoẻ của cộng động đặc biệt là
đối với người có thu nhập thấp, gia đình khó khăn thì mạng lưới y tế và Bảo hiểm xã hội
có vai trò quyết định.
1.3.2.5. Nguyên nhân do hạ tầng cơ sở nông thôn được cải thiện chậm.
Do hậu quả chiến tranh kéo dài, thiên tai liên tiếp xảy ra ở nhiều vùng nên phần lớn
đường xá nông thôn bị tàn phá và xuống cấp, trong khi đó nguồn kinh phí luôn thiếu vì
vậy giao thông nông thôn nhiều nơi vẫn đang trong tình trạng khó khăn, không có khả
Nhóm 09 - Lớp: DHTN5TH
Trang 13
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TH.S. Nguyễn Thị Phương
năng để tu bổ hoặc làm mới.
Nhiều cơ sở dịch vụ nông nghiệp trước đây do hợp tác xã nông nghiệp đảm nhận
cung cấp. Song vị trí hợp tác xác nông nghiệp ngày nay đã và đang hạn chế khả năng này
bởi nguồn vốn tạo lập của hợp tác xã rất khó khăn. Nhìn chung hợp tác nông nghiệp ngày
này là thiếu kinh phí và thường không đủ khả năng cung cấp các dịch vụ nông nghiệp cho
dù họ có thu phí. Hạ tầng cơ sở nông thôn đặc biệt quan trọng với các vùng khí hậu khắc
nghiệt, thiên tai thường xuyên xảy ra. Do trạm bơm và kênh mương thuỷ lợi chưa đáp
ứng được, nên một số vùng lụt, mất mùa xảy ra thường xuyên.
1.3.2.6. Nguyên nhân do có người trong gia đình mắc tệ nạn xã hội.
Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực
đáng kể thì những mặt tiêu cực cũng ngày càng rõ nét. Một trong những mặt tiêu cực đó
là số người mắc tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng như nghiện hút, cờ bạc, rượu chè... bên
cạnh đó là tình trạng thương mại hoá tràn lan xâm nhập vào lĩnh vực y tế, văn hoá, giáo
dục làm cho đời sống xã hội có những biểu hiện xuống cấp, đạo đức xa sút, tâm lý hưởng
thụ tăng lên... Đó là những thói hư tật xấu luôn tiềm tàng và phát sinh đối với những
người lười nhác lao động, ăn tiêu không có kế hoạch, không có ý thức vươn lên. Vì vậy
nếu họ xuất thân trong gia đình khó khăn nghèo túng thì gia đình đó ngày càng khó khăn
hơn, còn nếu họ xuất thân trong gia đình khá giả thì gia đình họ ngày càng đi xuống. Đó
chính là con đường dẫn đến phá sản cơ nghiệp, chấp nhận cảnh bần cùng đói rách. Đau
đớn hơn nó là sự huỷ hoại ghê gớm đạo đức, nhân văn của con người và gây ám ảnh sự
sợ hãi cho toàn xã hội.
1.3.2.7. Một số nguyên nhân khác.
Hậu quả của cuộc chiến tranh lâu dài đã làm cho hàng triệu gia đình ít nhiều phải
lâm vào cảnh đói nghèo, bệnh tật (chất độc mầu da cam, bom mìn dưới đất...)
Do ở nơi xa xôi, hẻo lánh, rừng sâu, núi cao, đảo xa thường không có đường ô tô và
các phương tiện giao thông thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội. Mặt
khác do không có hoặc thiếu, chậm thông tin về các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội (Kể cả ở địa phương, khu vực, quốc gia và quốc tế). Trong khi đó, phong tục tập
quán và những hủ tục lạc hậu còn khá nghiêm trọng.
Trình độ dân trí, trình độ văn hoá thấp, số người chưa biết chữ còn nhiều, hạn chế
khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, cách làm ăn mới.
Các cơ chế và chính sách đối với người nghèo chưa đồng bộ, còn chồng chéo với
Nhóm 09 - Lớp: DHTN5TH
Trang 14
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TH.S. Nguyễn Thị Phương
chính sách xoá đói giảm nghèo, đặc biệt là chưa thực hiện được chính sách xã hội hoá
trong việc thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo.
Từ những nguyên nhân trên cho thấy việc xoá đói giảm nghèo không chỉ tiến hành
riêng rẽ một hai giải pháp nào đó mà phải xử lý đồng thời tất cả các giải pháp trọng tâm,
trọng điểm.
1.4. KHÁI NHIỆM VÀ NHỮNG CHUẨN MỰC VỀ ĐÓI NGHÈO
Có nhiều quan niệm khác nhau về đói nghèo. Quan niệm chung nhất cho rằng: Đói
nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có đủ những nhu cầu cơ bản tối thiểu của
cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục... Tình trạng đói nghèo ở mỗi quốc gia
đều có sự khác nhau về mức độ và số lượng, thay đổi theo không gian và thời gian.
Người nghèo của quốc gia này có thể có mức sống cao hơn mức sống trung bình của
quốc gia khác. Bởi vậy nhìn nhận và tổ chức thực hiện vấn đề xoá đói giảm nghèo một
cách đầy đủ và có căn cứ cần tham khảo khái niệm, chỉ tiêu, chuẩn mực đánh giá đói
nghèo của thế giới.
1.4.1. Khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực đánh giá nghèo đói của thế giới
1.4.1.1. Khái niệm đói nghèo của thế giới
Thế giới thường dùng khái niệm nghèo khổ mà không dùng khái niệm đói nghèo
như ở Việt Nam và nhận định nghèo khổ theo 4 khía cạnh là thời gian, không gian, giới
và môi trường.
Về thời gian: Phần lớn người nghèo khổ có mức sống dưới mức "chuẩn" trong một
thời gian dài. Cũng có người nghèo khổ "tình thế" chẳng hạn như những người thất
nghiệp, những người mới nghèo do suy thoái kinh tế hoặc do thiên tai, tệ nạn xã hội, rủi
ro.
Về không gian: Nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nông thôn nơi có 3/4 dân số sinh sống.
Tuy nhiên tình trạng đói nghèo ở thành thị, trước hết là ở các nước đang phát triển cũng
có xu hướng gia tăng.
Về giới: Người nghèo là phụ nữ đông hơn nam giới. Nhiều hộ gia đình nghèo nhất
do phụ nữ là chủ hộ. Trong các hộ nghèo đói do đàn ông làm chủ thì phụ nữ khổ hơn nam
giới.
Về môi trường: Phần lớn người thuộc diện đói nghèo đều sống ở những vùng sinh
thái khắc nghiệt mà ở đó tình trạng đói nghèo và sự xuống cấp về môi trường đều đang
ngày càng trầm trọng thêm.
Nhóm 09 - Lớp: DHTN5TH
Trang 15
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TH.S. Nguyễn Thị Phương
Từ nhận dạng trên, Liên Hiệp Quốc đưa ra hai khái niệm chính về đói nghèo như
sau:
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu
cầu cơ bản tối thiểu để duy trì cuộc sống.
Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng đầy đủ
những nhu cầu cơ bản tối thiểu. Nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống là những đảm
bảo ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục... Ngoài những đảm bảo trên, cũng có ý
kiến cho rằng, nhu cầu tối thiểu bao gồm có quyền được tham gia vào các quyết định của
cộng đồng.
1.4.1.2. Chỉ tiêu đánh giá đói nghèo của thế giới.
Chỉ tiêu đánh giá sự đói nghèo của một quốc gia bắt đầu từ việc vạch ra giới hạn đói
nghèo. Khi đánh giá nước giàu, nước nghèo, giới hạn đói nghèo được biểu hiện bằng chỉ
tiêu chính là thu nhập quốc dân bình quân đầu người (GDP).
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, chỉ căn cứ và chỉ tiêu thu nhập thì chưa đủ để
đánh giá. Vì vậy bên cạnh chỉ tiêu này, tổ chức hội đồng phát triển hải ngoại (ODC) đưa
ra chỉ số chất lượng vật chất của cuộc sống (PQLI). Căn cứ để đánh giá chỉ số PQLI bao
gồm 3 chỉ tiêu cơ bản đó là: tuổi thọ, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh, tỷ lệ xoá mù chữ.
Gần đây tổ chức chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP) đưa ra thêm chỉ số
phát triển con người (HDI) bao gồm 3 chỉ tiêu sau: Tuổi thọ, tình trạng biết chữ của
người lớn, thu nhập.
Căn cứ vào 3 chỉ tiêu này UNDP đánh giá Việt Nam đứng thứ 127/187 nước trên
thế giới (Tài liệu công bố năm 2012)- nằm trong nhóm xếp loại “trung bình” về phát triển
con người. Như vậy chỉ tiêu đánh giá nước giàu, nước nghèo của các quốc gia vẫn căn cứ
vào chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân đầu người là chính. Khi kết hợp với các chỉ số
PQLI hay HDI chỉ bổ sung cho việc nhìn nhận các nước giàu nghèo chính xác hơn, khách
quan hơn.
Về hộ nghèo: Giới hạn đói nghèo biểu hiện dưới hai dạng chỉ tiêu thu nhập quốc
dân bình quân tính theo đầu người nằm dưới giới hạn nghèo được coi là hộ nghèo. Quy
mô nghèo từng vùng của một quốc gia được xác định bằng tỷ lệ số hộ nghèo đói trên
tổng số hộ dân cư thuộc vùng hoặc quốc gia đó.
1.4.1.3. Chuẩn mức đói nghèo của thế giới.
Nói chung quan niệm của nhiều nước cho rằng hộ nghèo có mức thu nhập dưới 1/3
Nhóm 09 - Lớp: DHTN5TH
Trang 16
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment