Saturday, March 26, 2016

TÁI cấu TRÚC NGÂN HÀNG và các vấn đề LIÊN QUAN đến tái cấu TRÚC NGÂN HÀNG tại VIỆT NAM

Nếu hệ thống ngân hàng rơi vào khủng hoảng sẽ kéo theo nguy cơ khủng hoảng của kinh tế xã hội hoặc một ngân hàng lớn bị rơi vào khủng hoảng có nguy cơ lan rộng ra toàn hệ thống. Nền kinh tế của một quốc gia khó có thể phát triển ổn định và lành mạnh khi hệ thống ngân hàng nhiều bất ổn và hoạt động kém hiệu quả. Nhu cầu cấu trúc trở nên cần thiết hơn khi hiện trạng của các ngân hàng gặp nhiều vấn đề trong cơ cấu, hoạt động khiến ngân hang hoạt động không hiệu quả; thậm chí trì trệ, vốn yếu, thiếu hụt thanh khoản và chất lượng tài sản suy giảm đứng trước nguy cơ tan rã, phá sản… những vấn đề trên xuất phát từ những yếu kém nội tại của hệ thống ngân hàng. Nhiều nguyên nhân là do cơ cấu sai, không hợp lý cụ thể: không xác định được chiến lược và kế hoạch, đội ngũ lãnh đạo làm việc không chất lượng, công cụ kiểm soát rủi ro cần thiết, quản trị nguồn nhân sự kém,… Ví dụ như sự phát triển nhanh chon dễ dãi trong việc thành lập ngân hàng cũng như việc mở rộng mạng lưới chi nhánh, các ngân hàng không đủ lực lượng quản lý được đào tạo bài bản về quản trị ngân hàng, điều này dễ dẫn đến các vụ lừa đảo, thất thoát tài sản; đặc biệt, tình trạng thiếu minh bạch trong sổ sách, trong các báo cáo tài chính bao gồm giấu hoặc chuyển lỗ, không hạch toán đúng chi phí dự phòng tín dụng, đúng các khoản chi phí và thu nhập…gây sức ép cho nền kinh tế, buộc Chính phủ phải tìm cách tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thông qua tái cơ cấu các ngân hàng và các định chế tài chính. Nếu không sàng lọc và tái cấu trúc sớm, các vụ đỗ vỡ hàng loạt trong hệ thống các TCTD có thể xảy ra. Bên cạnh đó còn có các yếu tố từ chính sách điều tiết mang tính vĩ mô kém hiệu quả, khả năng dự báo yếu dẫn đến việc điều tiết không kịp thời, các quy định về chính sách không chặt chẽ cũng sẽ làm cho hệ thống ngân hàng hoạt động không hiệu quả. Ví dụ như nền kinh tế tăng trưởng cao, Nếu Chính phủ khuyến khích ngân hàng gi tăng tín dụng mà không có chính sách kiềm chế hợp lý thì điều này dẫn đến các ngân hàng dễ dãi trong việc cho vay dẫn đến tăng tỷ lệ nợ xấu và nợ không hiệu quả, gây ra mất thanhkhoanr, từ đó ảnh hưởng đến toàn hệ thống. Ngoài ra việc tái cấu trúc cũng bắt nguồn từ vấn đề mang tính bắt buộc để phù hợp với xu hướng phát triển, ví dụ như xu hướng thay đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống ngân hàng trong xu hướng hội nhập đó là chuyển dần cơ cấu ngân hàng quốc doanh sang ngân hàng TMCP. 1.3. Mục tiêu tái cấu trúc ngân hàng 1.3.1. Các mục tiêu ngắn và trung hạn Thứ nhất, duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng, đảm bảo khả năng thanh khoản, chi trả và hoạt động của các trung gian tài chính không bị đình trệ. Đây là mục tiêu cơ bản nhất của việc tái cấu trúc nhằm đảm bảo tính ổn định trong hoạt động của ngân hàng và của cả hệ thống nền kinh tế Thứ hai, giải quyết các vấn đề một cách kịp thời nhằm ngăn ngừa sự lây lan hoặc các vấn đề hệ thống Thứ ba, khôi phục lại niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng. Khi hệ thống ngân hàng được cơ cấu lại, tính thanh khoản của hệ thống ổn định, mức độ tín nhiệm của ngân hàng được nâng cao sẽ tạo được lòng tin của các thành phần kinh tế đối với hệ thống ngân hàng. Thứ tư, tối thiểu hoá chi phí tái cấu trúc đối với NHTW. Song song với những mục tiêu củng cố sức mạnh cho hệ thống ngân hàng thì việc tái cơ caauscungx nhằm mục đích giảm thiểu tới mức nhỏ nhất các chi phí liên quan đến NHTW, để mang lại hiệu quả cao nhất cho quá trình tái cấu trúc. 1.3.2. Các mục tiêu dài hạn Thứ nhất, tạo ra một khuôn khổ quản lý nhà nước mới, phát triển phương cách qunr trị theo hướng phù hợp hơn chuẩn mực quốc tế, ngày càng đáp ứng đủ các yêu cầu của nền kinh tế. Theo đó, cần phải đảm bảo các nguyên tắc khi cho vay của ngân hàng khuyến khích các nguồn vốn mới. Thứ hai, xây dựng tính cạnh tranh và khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng để có thể đạt các chuẩn mực của quốc tế, tăng cường sức mạnh nội tại của ngân hàng, chống lại các mầm móng bất ổn và khủng hoảng. Thứ ba, tăng cường cơ sở hạ tầng tổng thể của hệ thống tài chính, góp phần thúc đẩy hệ thống tài chính phát triển,tạo cơ sở cho việc ổn định lâu dài của toàn bộ nền kinh tế. Đồng thời góp phần nâng cấp việc tiếp cận các dịch vụ tài chính 1.4. Điều kiện thực hiện tái cấu trúc thành công Việc cơ cấu lại chỉ thực sự cần thiết khi hoạt động của các TCTD đi chệch khỏi chức năng cơ bản của chúng trong nền kinh tế hoặc có những trục trặc nảy sinh gây mất an toàn hoặc nguy cơ đổ vỡ có tính hệ thống Việc tái cấu trúc cần nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau và cần trả lời được câu hỏi tại sao phải cấu trúc, tái cấu trúc khía cạnh nào, các ngân hàng sẽ hoạt động như thế nào sau quá trình tái cấu trúc, các ngan hàng sẽ xử lý khoản nợ xấu như thế nào… Điều quan trọng của quá trình tái cấu trúc là phải thiết lập được môt tiêu chí rõ ràng, đưa ra những kỉ cương của nhà nước, kỷ luật của thị trường cần được triển khai thận trọng trên nguyên tắc tư nguyện với lộ trình và bước đi cụ thể, thích hợp. Phải nhìn vào từng trường hợp rõ ràng để tìm ra giải pháp. Phải có khuôn khổ pháp lý phù hợp cho phép chính phủ có thể can thiệp nhằm đảm bảo rằng hệ thống bảo hiểm tiền gửi có đủ vốn để xử lý khủng hoảng và có thể sử dụng nhanh chóng và hiệu quả, bên cạnh đó can thiệp vào các ngân hàng mất khả năng thanh toán, quá trình can thiệp của Chính phủ sẽ làm nẩy sinh một số vấn đềpháp lý liên quan đến việc nắm giữ cổ phần của các cổ đông hiện tại vì thế cần có luật tương ứng để điều chỉnh. Đây là quá trình phức tạp, do đó, vai trò của NHNN phải được thể hiện mạnh mẽ, và những việc can thiệp đó phải nhanh chóng và kịp thời, phải có một quy trình toàn diện đánh giá và theo dõi liên tục tình trạng nợ xấu và mất thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, tránh tình trạng bị động. Cán bộ thanh tra giám sát cần được đào tạo các kỹ năng để thực thi các luật định và các nhà quản lý, các cơ quan giám sát phải được tiếp cận thông tin một cách đầy đủ kịp thời để đảm bảo tái cấu trúc hiệu quả, minh bạch. Bên cạnh đó, một số vấn đề cần đảm bảo khi thực hiện tái cấu trúc là: Cần phải có niềm tin vào hệ thống; đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền,người đi vay, các bên liên quan với một mức độ nhất định; áp dụng thực thi các chuẩn mực quốc tế trong phòng ngừa rủi ro, trên hết là hiểu rõ nguyên nhân và cách xử lý vấn đề. Phải có phục hồi tối đa các khoản nợ xấu. Tốc độ cải cách hợp lý với chi phí tối thiểu. Tôn trọng quy luật thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế. Kiểm soát chặt chẽ, thận trọng và linh hoạt tttrong chính sách tiền tệ. Công khai, minh bạch hoá thông tin về nợ xấu, hiệu quả hoạt ddoonhj kinh doanh 1.5. Các phương thức tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Các phương thức tái cấu trúc ngân hàng rất đa dạng tuỳ thuộc vào bối cảnh kinh tế, chính sách vĩ mô, năng lực tài chính của hệ thống ngân hàng…mà mỗi quốc gia sẽ lựa chọn phương án tối ưu nhất . Các phương thức được các quốc gia sử dụng bao gồm: 1.5.1. Xây dựng, điều chỉnh khung pháp lý và các cơ chế chính sách cho việc điều tiết, giám sát và đánh giá theo chuẩn mực quốc tế Đối với khung pháp lý, cần phải xây dựng và điều chỉnh các điều khoản trong cácđạo luật theo hướng phù hợp gơn với các quy định quốc tế. Bên cạnh đó, việc xây dựng các cơ chế, chính sách điều tiết, giám sát và đánh giá bao gồm các quy định về bảo hiểm tiền gửi, trích lập dự phòng, quy định vốn tối thiểu, các chuẩn mực kế toán phù hợp với quốc tế là điều thật sự cần thiết. 1.5.2. Thành lập cơ quan chuyên trách thực hiện tái cấu trúc NHTW có thể cân nhắc và thành lập “Ban tái cấu trúc ngân hàng” với nhiệm vụ thực hiện tái cấu trúc, sẽ hoạt động theo các mục tiêu sau: Yêu cầu các ngân hàng có vấn đề về vốn tự có phải tăng vốn hoặc sáp nhập Cung cấp bảo lãnh các khoản vay liên ngân hàng Lập quỹ tái cấu trúc và tái đầu tư vào ngân hàng khi không tự tăng được vốn. Với quỹ tái cấu trúc NHTW có thể mua lại cổ phần của các ngân hàng có mức vốn dưới tỷ lệ an toàn Đề xuất lên Chính phủ việc nới lỏng tỷ lệ sở hữu nước ngoài cho một số ngân hàng Đưa ra khung pháp lý để các ngân hàng có thể mua, bán nợ xấu và nợ dưới tiêu chuẩn 1.5.2. Xử lý nợ khó đòi hay nợ không hiệu quả NHTW cần phải rà soát lại tỷ lệ nợ xấu và mức dự phòng rủi ro tín dụng một cách kỹ lưỡng để có thể xác định chính xác, kịp thời các vấn đề nảy sinh, để NHTW có thể kịp thời có nhiều phương pháp xử lý. 1.5.4. Tái cấp vốn Biện pháp tái cấp vốn có thể được thực hiện dưới các hình thức sau: Chính phủ bơm vốn hoặc mua cổ phiếu để nnawms quyền quản lý Sâp nhập ngân hàng với nhau,trong nước với nước ngoài, hay giữa các ngân hàng trong nước với nhau Thay đổi cơ cấu sở hữu đối với các ngân hàng được tái cấu trúc 1.5.5. Xử lý nợ doanh nghiệp Nợ của các NHTM có thể mua và bán thông qua các công ty mua bán nợ. Trên thế giới cóhai loại hình công ty mua bán nợ tập trung ở cấp độ quốc gia và công ty mua bán nợ của NHTM. Đối với công ty mua bán nợ cấp quốc gia cũng có hai dạng: một loại được thành lập để xử lý nhanh nợ xấu của ngân hàng, loai còn lại được sử dụng lâu dài để hỗ trợ tái cơ cấu doanh nghiệp. Để mua bán nợ đạt hiệu quả, đòi hỏi phải có môi trường pháp lý hiệu quả, hoạt động của các ngân hàng phải được minh bạch, công khai, tạo niềm tin cho thị trường. Đồng thời, cần phân định rõ trách nhiệm của các bên liên quan cũng như điều kiệnđể mua lại nhằm tránh tình trạng các NHTM dồn hết nợ xấu cho NHTW. 1.5.6. Đổi mới quản trị, công nghệ và nhân lực Để nâng cao chất lượng quản lý của các ngân hàng, việc thay đổi phương thức quản lý thật sự cần thiết. Với yêu cầu ngày càng cao trong vấn đề quản trị ngân hàng, đòi hỏi mỗi ngân hàng cần phải có mô hình tổ chức thích hợp cũng như khả năng quản trị, hoạch định chiến lược linh hoạt với những thay đổi của thị trường. Cần phải thực hiện các yêu cầu quản trị sau: Thực hiện tốt việc công bố thông tin Mở rộng quyền cổ đông, giảm ảnh hưởng cổ đông là doanh nghiệp đến quyền sở hữu ngân hàng, giảm ảnh hưởng của cổ đông lớn Nâng cấp các quy định về kiểm soát, giám sát Đưa vào thực hiện mô hình quản lý rủi ro Basel II Quản trị tỷ lệ tổng tài sản/nợ, thực hiện chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 1.6. Những khó khăn và rủi ro khi thực hiện tái cấu trúc ngân hàng Bên cạnh những tác động tích cực từ việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, còn tồn tại những khó khăn và rủi ro mà các quốc gia phải quan tâm xem xét khi tiến hành thực hiện quá trình này trước, trong và sau khi tái cấu trúc. Các khó khăn và rủi ro thường gặp dưới đây được đưa ra bởi PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn trong hội thảo quốc tế “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý Việt Nam”. Thứ nhất, khó khăn do những mâu thuẫn về lợi ích phát sinh trong quá trình tái cấu trúc ngân hàng. Đó là những mâu thuẫn có liên quan đến lợi ích của người gửi tiền, lợi

No comments:

Post a Comment