Wednesday, March 16, 2016
Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty TNHH minh tiến
GVHD: TH.S. Nguyễn Dụng Tuấn
Báo cáo thực tập
bỏ ra khi thành lập doanh nghiệp. Đối với công ty cổ phẩn hoặc liên doanh thì nó
sẽ bao gồm phần đóng góp của các chủ đầu tư hoặc các cổ đông.
+ Phần lợi nhuận để lại tái đầu tư sau các quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Nợ phải trả: bao gồm các khoản đi vay của các cá nhân hay tổ chức tín dụng
dưới mọi hình thức hoặc do phát hành trái phiếu, các khoản phải trả người bán, trả
cho nhà nước, khoản người mua ứng trước, phải trả cho lao động doanh nghiệp.
Căn cứ dựa vào đặc điểm luân chuyển vốn:
Dựa trên tiêu thức này, vốn kinh doanh được chia làm 2 loại: vốn cố định và
vốn lưu động.
- Vốn cố định của doanh nghiệp
Vốn cố định là lượng vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên TSCĐ của
doanh nghiệp. Quy mô của vốn cố định sẽ quyết định đến lượng TSCĐ được hình
thành và ngược lại, đặc điểm hoạt động của TSCĐ sẽ chi phối đặc điểm luân
chuyển của vốn cố định. Từ mối liên hệ này, ta có thể khái quát những đặc thù của
vốn cố định như sau:
+ Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mà vẫn giữ
nguyên hình thái hiện vật. Vốn cố định là hình thái biểu hiện bằng tiền của TSCĐ
và cũng tham gia vào các chu kỳ sản xuất tương ứng.
+ Vốn cố định được luân chuyển giá trị dần dần, từng phần trong các chu kỳ
sản xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, TSCĐ không bị thay đổi hình thái
hiện vật ban đầu nhưng tính năng và công suất của nó bị giảm dần, theo đó vốn cố
định được tách thành 2 bộ phận:
Bộ phận thứ nhất ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ được luân chuyển
và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩn dưới hình thức chi phí khấu hao và được
tích lũy thành quỹ khấu hao, sau khi sản phẩm hàng hóa được tiêu thụ, quỹ khấu
hao này sẽ được sử dụng để tái sản xuất TSCĐ nhằm duy trì năng lực sản xuất của
doanh nghiệp.
Phần còn lại của vốn cố định vẫn được “cố định” trong đó, tưc là giá trị còn
lại của tài sản cố định. Hình thái hiện vật của vốn cố định là tài sản cố định.
Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn được luân chuyển vào giá trị sản phẩm và
được thu hồi dần dần tăng lên, song phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ lại dần
dần giảm xuống. Kết thúc quá trình vận động đó cũng là lức TSCĐ hết thời gian sử
SV: Trần Thị Liên
5
Lớp: CDTD13TH
GVHD: TH.S. Nguyễn Dụng Tuấn
Báo cáo thực tập
dụng, giá trị của nó được chuyển dịch vào giá trị sản phẩm đã sản xuất và khi đó
vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển.
Vốn cố định thường có chu kỳ vận động dài, sau nhiều năm mới có thể thu hồi
đủ số vốn đầu tư đã ứng ra ban đầu. Trong thời gian dài như vậy, đồng vốn luôn bị
đe dọa bởi những rủi ro, những nguyên nhân chủ quan, khách quan làm thất thoát
vốn.
+ Vốn cố định hoàn thành một vòng luân chuyển sau nhiều chu kỳ kinh
doanh.
Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng và chiếm tỷ
trọng tương đối lớn trong toàn bộ vốn đầu tư nói riêng, vốn sản xuất kinh doanh
nói chung. Quy mô của vốn cố định và trình độ quản lý sử dụng nó là nhân tố ảnh
hưởng quyết định đến trình độ trang bị kỹ thuật của sản xuất kinh doanh. Việc
quản lý vốn cố định có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Vốn lưu động của doanh nghiệp:
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn bằng tiền được ứng ra trước để
hình thành các tài sản lưu động sản xuất, tài sản lưu động lưu thông và một phần
để trả tiền công cho người lao động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất của
doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục.
Tài sản lưu động sản xuất bao gồm ở khâu sản xuất như: nguyên liệu, vật
liệu, công cụ, dụng cụ…Tài sản lưu động ở khâu sản xuất như sản phẩm đang chế
tạo, bán thành phẩm. Các tài sản lưu động ở khâu lưu thông bao gồm các sản
phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh
toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước… Trong quá trình sản
xuất kinh doanh, các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn
vận động thay thế và đổi chỗ cho nhau đảm bảo quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh được tiến hành liên tục và thuận lợi.
Tài sản lưu động luôn thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra sản phẩm, hàng
hóa. Do đó, phù hợp với các đặc điểm của tài sản lưu động, vốn lưu động cũng
không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: Dự trữ sản xuất,
sản xuất và lưu thông. Quá trình này được diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại
theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn chu chuyển của vốn lưu động.
SV: Trần Thị Liên
6
Lớp: CDTD13TH
GVHD: TH.S. Nguyễn Dụng Tuấn
Báo cáo thực tập
Dự trữ
T
NVL
Sản xuất
Sản phẩm
T’
Lao động
Trong quá trình vận động, vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay
trong một lần, qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, vốn lưu động lại thay đổi
hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật
tư hàng hóa dự trữ. Qua giai đoạn sản xuất, vật tư được đưa vào chế tạo các bán
thành phẩm và thành phẩm, sau khi sản phẩm được tiêu thụ, vốn lưu động lại trở
về hình thái tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu của nó. Sau mỗi chu kỳ tái sản
xuất, vốn lưu động mới hoàn thành một vòng chu chuyển.
Trong các doanh nghiệp, quá trình sản xuất kinh doanh luôn diễn ra một cách
thường xuyên, liên tục cho nên có thể thấy trong cùng một lúc, vốn lưu động của
doanh nghiệp được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới
nhiều hình thức khác nhau.
Căn cứ vào phạm vi huy động, vốn kinh doanh được chia làm 2 nguồn:
- Nguồn vốn từ bên trong doanh nghiệp: Việc doanh nghiệp huy động sử
dụng nguồn vốn bên trong có ưu điểm là doanh nghiệp được quyền tự chủ sử dụng
vốn cho sự phát triển của mình mà không phải chi phí cho việc sử dụng vốn. Tuy
nhiên cũng chính vì lợi thế về việc không phải trả chi phí khi sử dụng vốn bên
trong dẫn đến việc doanh nghiệp sử dụng vốn kém hiệu quả.
- Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể
huy động từ bên ngoài để đáp ứng cho nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh. Loại nguồn vốn này bao gồm: vốn vay ngân hàng, vay các tổ chức kinh tế
khác, phát hành trái phiếu, nợ người bán và các khoản nợ khác…
Ưu điểm của nguồn vốn này là tạo cho doanh nghiệp một cơ cấu tài chính
linh động hơn. Nếu doanh nghiệp đạt được mức doanh lợi cao hơn chi phí sử dụng
vốn càng nhiều thì việc huy động vốn từ bên ngoài nhiều sẽ giúp cho doanh nghiệp
phát triển mạnh hơn.
Nhược điểm: Doanh nghiệp phải trả lợi tức tiền vay và hoàn trả vay đúng
thời hạn, nếu doanh nghiệp sử dụng vốn sản xuất kinh doanh kém hiệu quả thì
khoản nợ phải trả trở thành gánh nặng và doanh nghiệp phải chịu rủi ro lớn.
Căn cứ vào thời gian huy động vốn
SV: Trần Thị Liên
7
Lớp: CDTD13TH
GVHD: TH.S. Nguyễn Dụng Tuấn
Báo cáo thực tập
Theo tiêu thức này có thể chia thành 2 loại: Nguồn vốn thường xuyên và
nguồn vốn tạm thời.
+ Nguồn vốn thường xuyên là nguồn vốn có tính chất lâu dài và ổn định mà
doanh nghiệp có thể sử dụng, nguồn này được dùng cho việc hình thành tài sản lưu
động thường xuyên cần thiết cho doanh nghiệp, nguồn vốn thường xuyên bao gồm
nguồn vốn riêng và các khoản vay dài hạn.
+ Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn doanh nghiệp sử
dụng đáp ứng nhu cầu tạm thời, bất thường phát sinh trong doanh nghiệp. Nguồn
vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn và nợ ngắn hạn.
Tài sản = Tài sản lưu động + Tài sản cố định
Nguồn vốn = Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu
Trong đó: Vốn tạm thời = Nợ ngắn hạn
Vốn thường xuyên = Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu
Việc phân loại nguồn vốn theo cách này giúp cho người quản lý doanh
nghiệp xem xét huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng,
đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn của doanh nghiệp.
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
1.2.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Vốn là điều kiện cần cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi
doanh nghiệp, nhưng chưa đủ để đạt được mục đích kinh doanh của doanh nghiệp
bởi lẽ trong nền kinh tế thị trường mục đích cao nhất của mọi doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh chính là lợi nhuận. Điều đó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp
phải khai thác và sử dụng triệt để mọi nguồn lực sẵn có của mình, trong đó sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn là yêu cầu bắt buộc đối với mọi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
Để làm rõ khái niệm hiệu quả sử dụng vốn ta đi tìm hiểu các khái niệm liên
quan như hiệu quả, hiệu quả kinh doanh.
Theo cách hiểu thông thường, hiệu quả là mối tương quan giữa đầu vào và
đầu ra của một quá trình kinh tế – kỹ thuật nhằm đạt được những mục đích xác
định.
SV: Trần Thị Liên
8
Lớp: CDTD13TH
GVHD: TH.S. Nguyễn Dụng Tuấn
Báo cáo thực tập
Hiệu quả kỹ thuật là mối tương quan giữa đầu vào của các yếu tố sản xuất
khan hiếm và sản phẩm (hàng hoá, dịch vụ...) ở đầu ra. Mối tương quan này có thể
đo lường theo hiện vật
Hiệu quả kinh doanh là mối tương quan giữa đầu vào và đầu ra của quá trình
kinh doanh (hàng hoá, dịch vụ). Mối tương quan này được đo lường bằng thước đo
tiền tệ.
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu
tố đầu vào (các nguồn nhân tài, vật lực) của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao
nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí tiết kiệm nhất.
Khái niệm hiệu quả kinh doanh được dùng làm một tiêu chuẩn để xem xét
các tài nguyên được phân phối ở mức độ tốt như thế nào.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn được sử dụng nhằm thu được lợi
nhuận trong tương lai. Nói cách khác, mục đích của việc sử dụng vốn là thu lợi
nhuận, cho nên hiệu quả sản xuất kinh doanh thường được đánh giá dựa trên so
sánh tương đối giữa lợi nhuận và vốn bỏ ra hay hiệu quả sử dụng vốn.
Hiệu quả sử dụng vốn là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử
dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục tiêu sinh
lợi tối đa với chi phí hợp lý .
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không những đảm bảo cho doanh nghiệp an toàn
về mặt tài chính, hạn chế rủi ro, tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên, mở rộng
sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận mà còn giúp doanh nghiệp tăng uy tín, nâng
cao khả năng cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Có thể nói
rằng hiệu quả sử dụng vốn thực chất là thước đo trình độ sử dụng nguồn nhân lực,
tài chính của doanh nghiệp, đó là vấn đề cơ bản gắn liền với sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp .
1.2.2. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
1.2.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
• Vòng quay hàng tồn kho:
Số vòng quay hàng tồn kho
SV: Trần Thị Liên
9
=
Giá vốn hàng bán
Lớp: CDTD13TH
GVHD: TH.S. Nguyễn Dụng Tuấn
Báo cáo thực tập
Hàng tồn kho bình quân
Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân
chuyển trong kỳ. Chỉ tiêu này phản ánh số vòng luân chuyển hàng tồn kho trong
một thời kỳ nhất định. Số vòng luân chuyển càng cao thì việc kinh doanh được
đánh giá càng tốt, bởi lẽ doanh nghiệp chỉ đầu tư cho hàng tồn kho thấp mà vẫn đạt
doanh số cao.
• Vòng quay các khoản phải thu:
Vòng quay các khoản phải thu
=
Doanh thu
Số dư bình quân các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải
thu thành tiền mặt của doanh nghiệp. Vòng quay càng lớn, chứng tỏ tốc độ thu hồi
các khoản thu là tốt.
• Kỳ thu tiền trung bình:
Kỳ thu tiền trung bình
=
=
360
Vòng quay các khoản phải thu
Số dư bình quân các khoản phải thu x 360
Doanh thu
Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản
phải thu (số ngày của một vòng quay các khoản phải thu). Vòng quay các khoản
phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền càng nhỏ.
• Vòng quay vốn lưu động:
Vòng quay vốn lưu động
=
Doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân
Vòng quay vốn lưu động phản ánh trong kỳ vốn lưu động quay được mấy
vòng. Nếu số vòng quay càng nhiều chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng
cao.
• Mức đảm nhiệm vốn lưu động:
SV: Trần Thị Liên
10
Lớp: CDTD13TH
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment