Tuesday, March 22, 2016
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH tài CHÍNH 1 tại CÔNG TY cổ PHẦN tư vấn xây DỰNG MIỀN TRUNG
Báo cáo thực tập
GVHD: ThS.Lê Đức Thiện
Chẳng hạn, đối với công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố
quyết định để hinh thành công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chỉ
chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị số cổ phần mà họ nắm giữ. Tuy nhiên, các công
ty cổ phần cũng có một số dạng tương đối khác nhau, do đó cách thức huy động vốn
cổ phần cũng khác nhau. Trong các loại hình doanh nghiệp khác như Công ty TNHH,
Công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI), các nguồn vốn cũng tương tự như
trên; tức là vốn có thể do chủ đầu tư bỏ ra, do các bên tham gia, các đối tác
góp.v.v...Tỷ lệ và quy mô góp vốn của các bên tham gia công ty phụ thuộc vào nhiều
yếu tố khác nhau ( như luật pháp, đặc điểm ngành kinh tế- kỹ thuật, cơ cấu liên
doanh).
b. Vốn bổ sung.
1.
Bổ sung từ lợi nhuận hàng năm
Vốn bổ sung là vốn chủ yếu do doanh nghiệp được lấy một phần từ lợi nhuận
để lại doanh nghiệp, nó được thực hiện dưới hình thức lấy một phần từ quỹ đầu tư phát
triển, quỹ dự phòng tài chính. Quy mô số vốn ban đầu của chủ doanh nghiệp là một
yếu tố quan trọng, tuy nhiên, thông thường, số vốn này cần được tăng theo quy mô
phát triển của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất - kinh doanh, doanh
nghiệp hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng
trưởng nguồn vốn. Nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận
dược sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Tự tài trợ bằng lợi nhuận không chia nên nguồn vốn nội bộ có một phương
thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn trong các doanh nghiệp, vì doanh
nghiệp đã phát huy được nguồn lực của chính mình, giảm được chi phí, giảm bớt sự
phụ thuộc vào bên ngoài, nhất là khi có biến động trên thị trường tài chính. Rất nhiều
doanh nghiệp coi trọng chính sách tái đầu tư từ lợi nhuận để lại ( retained earnings ),
họ đặt ra mục tiêu phải có một khối lượng lợi nhuận để lại đủ lớn nhằm đáp ứng nhu
cầu vốn ngày càng tăng.
Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được nếu như
doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư. Đối
với các doanh nghiệp Nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc không chỉ vào khả năng
sinh lợi của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính sách khuyến khích tái
đầu tư của Nhà nước.
SVTH: Lê Thị Như – 10012683 – Lớp CDTD12TH
6
Báo cáo thực tập
GVHD: ThS.Lê Đức Thiện
Tuy nhiên, đối với các công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận liên quan đến
một số yếu tố rất nhạy cảm. Khi Công ty để lại một phần lợi nhuận trong năm cho tái
đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không được
nhận tiền lãi cổ phần ( cổ tức ) nhưng bù lại họ có quyền sở hữu số cổ phần tăng lên
của Công ty.
Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tự tài trợ bằng
nguồn vốn nội bộ. Điều này một mặt khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài,
nhưng mặt khác dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ trước mắt ( ngắn
hạn ) do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn. Nếu tỷ lệ trả cổ tức thấp
hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu có thể bị giảm sút.
Khi giải quyết vấn đề cổ tức và tái đầu tư, chính sách phân phối cổ tức của công
ty cổ phần phải lưu ý đến một số yếu tố có liên quan như:
- Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ
- Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước.
- Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của
công ty, tâm và đánh giá của công chúng về cổ phiếu đó.
- Hiệu quả của việc tái đầu tư.
2.
Bổ sung từ chủ sở hữu.
•
Phát hành cổ phiếu bổ sung.
Đối với một doanh nghiệp cổ phần thì nguồn vốn do các cổ đông thành viên
đóng góp là điều kiện tiên quyết để thành lập công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu
công ty theo tỷ lệ vốn góp và chịu trách nhiệm hữu hạn bằng giá trị cổ phần mà họ
nắm giữ.
Ngoài số vốn đầu tư ban đầu đã bỏ ra khi thành lập doanh nghiệp, trong quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển, mở rộng quy mô, doanh nghiệp
có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu bổ sung, đây là một nguồn
tài chính dài hạn rất quan trọng cho doanh nghiệp trong việc huy động vốn. Chúng ta
sẻ xem xét một số yếu tố cơ bản liên quan đến việc phát hành và kiểm soát các loại cổ
phiếu khác nhau.
Phát hành cổ phiếu: Cổ phiếu là giấy xác nhận sự tham gia góp vốn của một
chủ thể ( gọi là cổ đông ) vào một công ty, tức là xác định cổ đông có quyền sở hữu
một phần vốn đối với công ty đó theo tỷ lệ phần trăm cổ phiếu của cổ đông đó. Cổ
SVTH: Lê Thị Như – 10012683 – Lớp CDTD12TH
7
Báo cáo thực tập
GVHD: ThS.Lê Đức Thiện
phiếu có thể được phát hành thành hai loại: cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu tiên.
Cổ phiếu thường: Cổ phiếu thường (còn gọi là cổ phiếu thông thường), nó
thuộc loại cổ phiếu không kỳ hạn, nó tồn tại cùng với sự tồn tại của công ty phát hành
ra nó, không có mức lãi suất cố định. Tuy nhiên, thị giá cổ phiếu lại rất nhạy cảm trên
thị trường, không chỉ phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty mà còn rất nhiều nhân tố
khác như: môi trường kinh tế, thay đổi lãi suất, hay nói cách khác tuân theo quy luật
cung cầu. Cụ thể hơn nữa, thị giá cổ phiếu thông thường phụ thuộc vào tăng trưởng
kinh tế nói chung và biến động theo chiêù nghịch với biến động lãi suất trái phiếu
chính phủ, các công cụ vay nợi dài hạn lãi suất cố định và lãi suất huy động tiền gửi
của ngân hàng. Cổ phiếu thường có những ưu thế trong việc phát hành ra công chúng
và trong quá trình lưu hành trên thị trường chứng khoán. Cổ phiếu thường là chứng
khoán quan trọng nhất, mua bán trên thị trường chứng khoán, điều đó cũng đủ để minh
chứng tầm quan trọng của nó so với các công cụ tài chính khác.
Mặc dù việc phát hành cổ phiếu có nhiều ưu thế so với các phương thức huy
động vốn khác nhưng cũng có những hạn chế và các ràng buộc cần được doanh nghiệp
cân nhắc kỹ lưỡng. Giới hạn phát hành là một quy định ràng buộc có tính pháp lý.
Lượng cổ phiếu tối đa mà công ty được quyền phát hành gọi là vốn cổ phiếu được cấp
phép. đây là một trong những quy định của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước nhằm quản
lý và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động phát hành và giao dịch chứng khoán. Tại nhiều
nước, số cổ phiếu được phép phát hành được ghi trong điều lệ của công ty, tuy nhiên
một số nước khác không quy định ghi số lượng có trong điều lệ công ty.Như vậy vốn
cổ phần thì trước hết cần phải được đại hội cổ đông cho phép, sau đó phải hoàn tất
những thủ tục quy định khác.
Hầu hết các nước đều sử dụng giới hạn phát hành như một công cụ quan trọng
để kiểm soát và hạn chế các rủi ro cho công chúng. Thông thường, một công ty có thể
phát hành một lần hoặc một số lần trong giới hạn số cổ phiếu đã được cấp phép phát
hành. Tuy nhiên, trên thực tế, việc quản lý và kiểm soát quá trình phát hành chứng
khoán tuỳ thuộc vào chính sách cụ thể của nhà nước và Uỷ ban chứng khoán Nhà
nước. ở Việt Nam hiện nay, hệ thống văn bản pháp quy về chứng khóan mới được xây
dựng và đang trong quá trình hoàn thiện để tạo điều kiện tốt hơn cho hoat động huy
động vốn của doanh nghiệp và lưu chuyển vốn trong nề kinh tế.
Sau khi phát hành, phần lớn những cổ phiếu nằm trong tay các nhà đầu tư, các
SVTH: Lê Thị Như – 10012683 – Lớp CDTD12TH
8
Báo cáo thực tập
GVHD: ThS.Lê Đức Thiện
cổ đông (shareholder). Những cổ phiếu này gọi là những cổ phiếu đang lưu hành trên
thị trường. Tuy nhiên, có thể chính công ty phát hành mua lại một số cổ phiếu của
mình và giữ chúng nhằm mục đích nào đó. Những cổ phiếu được công ty mua lại như
vậy gọi là cổ phiếu ngân quỹ. Những cổ phiếu này được coi như tạm thời không lưu
hành. Việc mua lại hoặc bán ra những cổ phiếu này phụ thuộc vào một số yếu tố như:
-
Tình hình biến động thị giá chứng khoán trên thị trường.
-
Tình hình cân đối vốn và khả năng đầu tư.
Chính sách đối với việc sáp nhập hoặc thôn tính công ty ( chống thôn tính).
Tình hình trên thị trường chứng khoán và quy định của Uỷ ban chứng khoán
Nhà nước.
Mệnh giá và thị giá:
Giá trị ghi trên mặt cổ phiếu gọi là mệnh giá, giá cả của cổ phiếu trên thị trường
gọi là thị giá. Giá trị của cổ phiếu được phản ánh trong sổ sách kế toán của công ty gọi
là giá tị ghi sổ ( book value), đó cũng chính là mệnh giá của các cổ phiếu đã phát hành.
Mệnh giá không được ghi trên mặt cổ phiếu mà còn được ghi rõ trong giấy
phép phát hành và trên sổ sách kế toán của công ty. Tuy nhiên, mệnh giá chỉ có ý
nghĩa khi phát hành cổ phiếu và đối với khoảng thời gian ngắn sau khi cổ phiếu được
phát hành. Thị giá phản ánh sự đánh giá của thị trường đối với cổ phiếu, phản ánh long
tin của các nhà đầu tư đối với hoạt động của công ty.
Các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường chình là những người sở hữu công ty, do
đó họ có quyền trước hết đối với tài sản hoặc thu nhập của công ty. Cổ đông có quyền
tham gia kiểm soát và điều khiển các công việc của công ty. Tuy nhiên, thông thường
có một số lượng cổ đông của công ty, nên mỗi cổ đông phải có một quyền lực giới hạn
nhất định trong việc bỏ phiếu hoặc chỉ định thành viên của ban giám đốc. Một số công
việc hay những vấn đề đặc biệt cần có sự nhất trí của đại đa số cổ đông.
Tuỳ theo việc quy định trong điều lệ công ty, có thể hình thành các phương
thức bỏ phiếu khác nhau. Hai phương pháp được sử dụng rộng rãi là bỏ phiếu theo đa
số và bỏ phiếu gộp.
SVTH: Lê Thị Như – 10012683 – Lớp CDTD12TH
9
Báo cáo thực tập
GVHD: ThS.Lê Đức Thiện
Bỏ phiếu theo đa số : là việc cổ đông có thể dùng mỗi lá phiếu để bầu một
người quản lý, các chức danh sẽ được bầu riêng rẽ. Điều này rõ ràng có lợi cho những
người đang nắm da số cổ phiếu của công ty vì họ có thể tạo áp lực mạnh hơn bằng số
lớn cổ phiếu nắm giữ.
-
Cơ chế bỏ phiếu gộp: cho phép cùng bỏ phiếu cho một số ứng cử viên nào
đó, tức là một cổ đông có thể dồn toàn bộ số phiếu có trong tay cho một ứng cử viên
được ưa chuộng. Đây là lý do tại sao một số các cổ đông thiểu số ủng hộ cơ chế bỏ
phiếu gộp.
-
Trong điều lệ công ty có quy định rõ về phạm vi những sự vụ cần được đa
số ( trên 50% ) cổ đông tán thành và những vấn đề cần được tuyệt đại đa số ( 75% )
đông nhất trí.
Vấn đề chống thôn tính, bảo vệ công ty trước sự xâm thực bằng cổ phiếu
của các công ty khác là một khía cạnh đặc biệt. Huy động vốn qua phát hành cổ phiếu
phải xét đến nguy cơ bị thôn tính. Do đó, phải tính đến tỷ lệ cổ phần tối thiểu cần duy
trì để giữ vững quyền kiểm soát của công ty. Khi phát hành ra thị trường cổ phiếu này,
đòi hỏi nhà quản lý phải căn cứ vào một số yếu tố như: tình hình cân đối vốn và khả
năng đầu tư, tình hình biến động thị giá chứng khoán trên thị trường, chính sách đối
với việc sát nhập hay thôn tính công ty, tình hình trên thị trường chứng khoán và quy
định của cơ quan quản lý liên quan, mệnh giá và thị giá của chứng khoán...
Cổ phiếu ưu đãi: Có đặc điểm là loại cổ phiếu có quyền nhận được thu
nhập có lợi nhuận ổn định, không phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty. Tuy nhiên, thị
giá của cổ phiếu này phụ thuộc vào sự thay đổi lãi suất trái phiếu kho bạc và tình hình
tài chính của công ty.Cổ phiếu ưu tiên thường chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng
số cổ phiếu được phát hành. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc dùng cổ phiếu
ưu đãi là thích hợp. Người chủ của cổ phiếu này có quyền được thanh toán lãi trước
các cổ đông thường. Nếu số lãi chỉ đủ để trả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thì các cổ
đông thường sẽ không được nhận cổ tức của kỳ đó. Việc giải quyết chính sách cổ tức
được nêu rõ trong điều lệ công ty.
Phần lớn các công ty cổ phần quy định rõ: Công ty có nghĩa vụ trả hết
số lợi tức chưa thanh toán của các kỳ trước cho các cổ đông ưu tiên, sau đó mới thanh
toán cho các cổ đông thường.
Các cổ phiếu ưu đãi có thể được chính công ty phát hành thu hồi lại ( chuộc
SVTH: Lê Thị Như – 10012683 – Lớp CDTD12TH
10
Báo cáo thực tập
GVHD: ThS.Lê Đức Thiện
lại ) khi công ty thấy cần thiết. Những trường hợp như vậy cần được quy định rõ
những điểm sau:
-
Trường hợp nào thì công ty có thể mua lại cổ phiếu.
-
Giá cả khi công ty mua lại cổ phiếu.
-
Thời hạn tối thiểu không được phép mua lại cổ phiếu ( ví dụ 5 năm ) .
Trong thực tế ở môt số nước như Mỹ chẳng hạn, rất hiếm khi cổ đông ưu tiên
có quyền bỏ phiếu một cách đầy đủ. Tuy nhiên, nếu có ít nhất 2/3 cổ đông ưu tiên nhất
trí về một vấn đề nào đó thì ban lãnh đạo công ty phải xem xét ý kiến của họ. Nếu các
cổ phiếu ưu đãi không được trả cổ tức thì các cổ đông của những cổ phiếu đó có thể
được quyền bỏ phiếu.
Một vấn đề rất quan trọng cần đề cập khi phát hành cổ phiếu ưu đãi đó là thuế.
Khác với chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập công ty, cổ tức được lấy
từ lợi nhuận sau thuế. Đó là hạn chế của cổ phiếu ưu tiên. Mặc dù vậy, như đã đề cập,
cổ phiếu ưu tiên vẫn có những ưu điểm đối với cả công ty phát hành và cả những nhà
đầu tư.
Khi nào các hãng phát hành và thu hồi cổ phiếu?
Để trả lời câu hỏi này cần xem xét những khía canh sau: Các hãng thường
cố gắng cân bằng giữa nợ và vốn chủ sở hữu để giữ vững khả năng thanh toán, củng
cố uy tín tài chính. Khi tỷ lệ nợ ở mức thấp, nếu cần vốn thì các công ty thường chọn
cách phát hành trái hành trái phiếu tức là tăng nợ ( mà không tăng vốn bằng phát hành
cổ phiếu) . Nếu tỷ lệ nợ ở mức cao, công ty phải tránh việc tăng thêm tỷ lệ nợ và chọn
cách phát hành cổ phiếu.
Tuy nhiên, thực tế các công ty không quan tâm nhiều đến việc giữ một mức cân
bằng chính xác. Việc điều chỉnh vốn chủ sở hữu và các khoán nợ thường ngẫu hứng và
theo kiểu linh hoạt “tuỳ cơ ứng biến”.
Sự phản ứng các biến động của thị trường chứg khoán là một yếu tố đáng chú ý.
Một số nhà phân tích tài chính doanh nghiệp đã đưa ra những nhận xét như sau:
Phần lớn các cổ phiếu được phát hành song song sau khi thị giá cổ phiếu của
doanh nghiệp đó tăng trên thị trường chứng khoán.
Giá cổ phiếu tăng lên là một dấu hiệu có nhiều cơ hội đầu tư mở rộng vào
những dự án có triển vọng trong doanh nghiệp.
Tuy nhiên, người ta chưa lý giải được một cách tường tận tại sao trên thực tế
SVTH: Lê Thị Như – 10012683 – Lớp CDTD12TH
11
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment