Saturday, May 21, 2016
hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại cát lợi
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
Đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tiền lƣơng chịu sự tác động, chi phối
rất lớn của thị trƣờng và thị trƣờng lao động nhƣng vẫn phải nằm trong khuôn khổ
pháp luật.
Đó là những giao dịch trực tiếp giữa chủ và thợ, là những mặc cả cụ thể giữa bên làm
thuê và bên đi thuê.
Đứng trên phạm vi toàn xã hội, tiền lƣơng đƣợc xem xét và đặt trong quan hệ về
phân phối thu nhập, quan hệ sản xuất tiêu dùng, quan hệ trao đổi. Do vậy chính sáh
tiền lƣơng thu nhập luôn luôn là vấn đề quan tâm của mọi quốc gia.
Chúng ta cần phân biệt giữa hai khái niệm của tiền lƣơng:
+Tiền lƣơng danh nghĩa: là số tiền mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động.
Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng xuất lao động, phụ thuộc vào
trình độ, kinh nghiệm làm việc ngay… trong quá trình lao động.
+ Tiền lƣơng thực tế: Đƣợc hiểu là số lƣợng các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại
dịch vụ cần thiết mà ngƣời lao động đƣợc hƣởng lƣơng và có thể mua đƣợc bằng tiền
lƣơng thực tế đó.
1.1.2. Đặc điểm của kế toán tiền lƣơng
Tiền lƣơng là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, là vốn ứng trƣớc
và đây là một khoản chi phí trong giá thành sản phẩm
Trong quá trình lao động sức lao động của con ngƣời bị hao mòn dần cùng với
quá trình tạo ra sản phẩm. Muốn duy trì và nâng cao khả năng làm việc của con ngƣời
thì cần phải tái sản xuất sức lao động. Do đó tiền lƣơng là một trong những tiền đề vật
chất có khả năng tái tạo sức lao động trên cơ sở bù lại sức lao động đã hao phí, bù lại
thông qua sự thõa mãn nhu cầu tiêu dùng của ngƣời lao động.
- Đối với nhà quản lý thì tiền lƣơng là một trong những công cụ để quản lý doanh
nghiệp. Thông qua việc trả lƣơng cho ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động có thể
tiến hành kiểm tra theo dõi, giám sát ngƣời lao động làm việc theo kế hoạch tổ chức
của mình để đảm bảo tiền lƣơng bỏ ra phải đem lại kết quả cao. Nhƣ vậy ngƣời sử
dụng sức lao động quản lý một cách chặt chẽ về số lƣợng và chất lƣợng lao động của
mình để trả công xứng đáng.
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: - Lớp: CDKT13ATH
Trang:4
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
1.1.3. Vai trò và nhiệm vụ của tiền lƣơng:
1.1.3.1. Vai trò
+ Chức năng tái sản xuất sức lao động:
Quá trình tái sản xuất sức lao động đƣợc thực hiện bởi việc trả công cho ngƣời lao
động thông qua lƣơng. Bản chất của sức lao động là sản phẩm lịch sử luôn đƣợc hoàn
thiện và nâng cao nhờ thƣờng xuyên đƣợc khôi phục và phát triển, còn bản chất của tái
sản xuất sức lao động là có đƣợc một tiền lƣơng sinh hoạt nhất định để họ có thể duy
trì và phát triển sức lao động mới (nuôi dƣỡng, giáo dục thế hệ sau), tích luỹ kinh
nghiệm và nâng cao trình độ, hoàn thiện kỹ năng lao động.
+ Chức năng là công cụ quản lý của doanh nghiệp:
Mục đích cuối cùng của các nhà quản trị là lợi nhuận cao nhất. Để đạt đƣợc mục
tiêu đó họ phải biết kết hợp nhịp nhàng và quản lý một cách có nghệ thuật các yếu tố
trong quá trình kinh doanh. Ngƣời sử dụng lao động có thể tiến hành kiểm tra giám
sát, theo dõi ngƣời lao động làm việc theo kế hoạch, tổ chức của mình thông qua việc
chi trả lƣơng cho họ, phải đảm bảo chi phí mà mình bỏ ra phải đem lại kết quả và hiệu
quả cao nhất. Qua đó nguời sử dụng lao động sẽ quản lý chặt chẽ về số lƣợng và chất
lƣợng lao động của mình để trả công xứng đáng cho ngƣời lao động.
+ Chức năng kích thích lao động ( đòn bẩy kinh tế):
Với một mức lƣơng thoả đáng sẽ là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển tăng
năng xuất lao động. Khi đƣợc trả công xứng đáng ngƣời lao động sẽ say mê, tích cực
làm việc, phát huy tinh thần làm việc sáng tạo, họ sẽ gắn bó chặt chẽ trách nhiệm của
mình với lợi ích của doanh nghiệp. Do vậy, tiền luơng là một công cụ khuyến khích
vật chất, kích thích ngƣời lao động làm việc thực sự có hiệu quả cao.
1.1.3.2. Nhiệm vụ
Trong một doanh nghiệp, để công tác kế toán hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
và trở thành một công cụ đắc lực phục vụ công tác quản lý toàn doanh nghiệp thì
nhiệm vụ của bất kỳ công tác kế toán nào đều phải dựa trên đặc điểm, vai trò của đối
tƣợng đƣợc kế toán. Kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng cũng không
nằm ngoài qui luật này. Tính đúng thù lao lao động và thanh toán đầy đủ tiền lƣơng
và các khoản trích theo lƣơng cho ngƣời lao động một mặt kích thích ngƣời lao động
quan tâm đến thời gian lao động, đến chất lƣợng và kết quả lao động mặt khác góp
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: - Lớp: CDKT13ATH
Trang:5
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
phần tính đúng tính đủ chi phí và giá thành sản phẩm, hay chi phí của hoạt động. Vì
vậy kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng phải thực hiện những nhiệm vụ
cơ bản sau đây:
+Theo dõi, ghi chép, phản ánh, tổng hợp chính xác, đầy đủ, kịp thời về số lƣợng,
chất lƣợng, thời gian và kết quả lao động. Tính toán các khoản tiền lƣơng, tiền thƣởng,
các khoản trợ cấp phải trả cho ngƣời lao động và tình hình thanh toán các khoản đó cho
ngƣời lao động .Kiểm tra việc sử dụng lao động, việc chấp hành chính sách chế độ về
lao động, tiền lƣơng trợ cấp bảo hiểm xã hội ( BHXH ), bảo hiểm y tế ( BHYT ), kinh
phí công đoàn ( KPCĐ ), trợ cấp thất nghiệp ( TCTN ) và việc sử dụng các quỹ này.
+Tính toán và phân bổ các khoản chi phí tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng
vào chi phí sản xuất, kinh doanh theo từng đối tƣợng. Hƣớng dẫn và kiểm tra các bộ
phận trong doanh nghiệp thực hiện đúng chế độ ghi chép ban đầu về lao động, tiền
lƣơng, BHXH, BHYT, KPCĐ, TCTN, mở sổ, thẻ kế toán và hạch toán lao động, tiền
lƣơng, và các khoản trích theo lƣơng đúng chế độ.
+Lập báo cáo về lao động, tiền lƣơng, BHXH, BHYT, KPCĐ, TCTN, phân tích
tình hình sử dụng lao động, quỹ tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng, đề xuất
biện pháp để khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động, tăng năng suất lao động, ngăn
ngừa những vi phạm kỷ luật lao động, vi phạm chính sách chế độ về lao động, tiền
lƣơng và các khoản trích theo lƣơng.
1.1.4.Các hình thức tiền lƣơng
1.1.4.1.. Tiền lƣơng trả theo thời gian
Tiền lƣơng mà ngƣời lao động nhận đƣợc sẽ phụ thuộc vào thời gian làm việc và
đơn giá lƣơng trong một đơn vị thời gian.
Phạm vi áp dụng của hình thức tiền lƣơng này:
-Áp dụng cho những nhân viên thực hiện các công việc không thể định mức lao
động một cách chính xác đƣợc.
-Khi công việc đƣợc thực hiện bằng máy móc theo dây chuyền hoặc mức độ cơ
giới hóa và tự động hóa cao.
-Khi sản xuất đa dạng (theo đơn đặt hàng với số lƣợng nhỏ hoặc sản xuất có tính
tạm thời).
-Khi công việc đòi hỏi tính chính xác và chất lƣợng cao.
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: - Lớp: CDKT13ATH
Trang:6
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
-Khi sản xuất có những gián đoạn ngƣng trệ mà chƣa thể khắc phục đƣợc.
-Áp dụng cho những công việc có tính chất đặc biệt đòi hỏi tính sáng tạo cao.
-Khi công việc ảnh hƣởng trực tiếp đến tính mạng của ngƣời khác.
Ưu điểm của hình thức trả lương theo thời gian:
-Trả lƣơng theo thời gian rất dễ tính toán và bảo đảm cho nhân viên một khoản
tiền thu nhập nhất định trong thời gian làm việc.
Ngày nay tiền lƣơng trả theo thời gian đƣợc áp dụng rất rộng rãi trên thế giới vì
yếu tố chất lƣợng và độ chính xác ngày càng đƣợc chú trọng cũng nhƣ mức độ cơ giới
hóa và tự động hóa ngày càng cao.
Hạn chế:
Tiền lƣơng trả theo thời gian chƣa thực sự gắn chặt giữa thu nhập với kết quả lao
động. Nó làm nảy sinh các yếu tố bình quân chủ nghĩa trong trả lƣơng.
Để khắc phục hạn chế trên ngƣời ta áp dụng hình thức tiền lƣơng có thƣởng. Tiền
thƣởng đóng vai trò khuyến khích ngƣời nhân viên nâng cao hiệu năng làm việc. Bên
cạnh đó cần tăng cƣờng công tác quản lý thƣờng xuyên kiểm tra đôn đốc việc thực
hiện công việc của nhân viên.
1.1.4.2. Tiền lƣơng trả theo sản phẩm
Là hình thức tiền lƣơng mà tiền lƣơng ngƣời lao động phụ thuộc vào số lƣợng
sản phẩm (hay khối lƣợng công việc) họ làm ra và đơn giá trả cho một đơn vị sản
phẩm.
Hình thức tiền lƣơng này tạo sự kích thích cao đối với ngƣời lao động, động viên
mạnh mẽ họ hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc giao. Nó cũng khuyến khích nhân viên học
tập, nâng cao trình độ lành nghề … để qua đó tăng năng suất lao động nhờ đó mà tiền
lƣơng đƣợc trả cao .
Tuy nhiên tiền lƣơng trả theo sản phẩm có thể không khuyến khích việc tiết kiệm
nguyên vật liệu, bảo vệ máy móc thiết bị và có thể làm giảm tính tập thể giữa các nhân
viên.
Điều kiện để thực hiện trả lƣơng theo sản phẩm bao gồm:
-Kết quả của lao động phải thể hiện bằng số đo tự nhiên.
-Có thể thống kê kết quả lao động một cách hiệu quả.
-Có định mức lao động một cách chính xác.
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: - Lớp: CDKT13ATH
Trang:7
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
-Xác định đúng suất lƣơng cấp bậc trả cho công việc đó.
Tùy theo đặc điểm tổ chức sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp mà có nhiều
cách trả lƣơng sản phẩm khác nhau. Các chế độ tiền lƣơng sản phẩm thƣờng là:
a. Tiền lƣơng sản phẩm trực tiếp cá nhân
Chế độ tiền lƣơng này áp dụng đối với công nhân hoạt động tƣơng đối độc lập,
tạo ra những sản phẩm tƣơng đối hoàn chỉnh và đòi hỏi có những mức lao động áp
dụng cho từng cá nhân .
Tiền lƣơng sản phẩm trực tiếp cá nhân đƣợc xác định nhƣ sau:
Lsp =ĐG x Q
Trong đó:
ĐG : là đơn giá sản phẩm
Q : là Số sản phẩm mà ngƣời lao động làm đƣợc.
Đơn giá sản phẩm có thể đƣợc xác định nhƣ sau:
ĐG = ( Lcb + PC )/ Msl
Hoặc:
ĐG = ( Lcb + PC ) x Mtg
Ở đây:
Lcb : Lƣơng cấp bậc của công việc ( mức lƣơng trả cho công việc đó )
PC : Phụ cấp mang tính lƣơng cho công việc đó .
Msl : Mức sản lƣợng
Mtg : Mức thời gian .
Chế độ tiền lƣơng này gắn trực tiếp tiền lƣơng của từng cá nhân với kết quả lao
động của bản thân họ, do đó tạo ra sự khuyến khích cao đối với ngƣời lao động nhằm
nâng cao năng suất lao động. Tuy nhiên chế độ tiền lƣơng bộc lộ rõ nhất những nhƣợc
điểm của hình thức trả lƣơng theo sản phẩm. Đó là: công nhân ít quan tâm đến việc
bảo vệ máy móc thiết bị, không chú ý đến tiết kiệm vật tƣ, nguyên vật liệu, và không
quan tâm đến kết quả chung của tập thể .
Vì vậy khi áp dụng chế độ tiền lƣơng này doanh nghiệp cần phải có những quy
định chặt chẽ nhằm hạn chế những ảnh hƣởng không tốt của chế độ tiền lƣơng này.
b. Chế độ tiền lƣơng sản phẩm có thƣởng
Đây là chế độ tiền lƣơng sản phẩm cá nhân kết hợp với hình thức tiền thƣởng khi
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: - Lớp: CDKT13ATH
Trang:8
Chuyên đề tốt nghiệp
Giáo viên HD: Th.S Lê Thị Hồng Sơn
công nhân hoàn thành vƣợt mức sản lƣợng quy định.
Tiền lƣơng sản phẩm có thƣởng đƣợc xác định nhƣ sau :
Lspthƣởng = Lsp + ( mh/100 x Lsp )
Trong đó:
h: là phần trăm hoàn thành vƣợt mức sản lƣợng .
m: là % tiền thƣởng so với lƣơng sản phẩm cho 1% hoàn thành vƣợt mức sản
lƣợng .
Chế độ tiền lƣơng khuyến khích cao công nhân hoàn thành vƣợt mức quy định,
nhờ vậy mà đƣợc hƣởng thêm tiền thƣởng vƣợt mức.
Chế độ tiền lƣơng này khi áp dụng cần tính cho cả tháng để tránh tình trạng trong
tháng công nhân không đạt mức mà vẫn đƣợc hƣởng tiền thƣởng.
c. Chế độ tiền lƣơng lũy tiến
Chế độ tiền lƣơng này thì đơn giá tiền lƣơng cho một đơn vị sản phẩm sẽ đƣợc
tăng lũy tiến theo mức độ hoàn thành vƣợt quy định .
Công thức tính tiền lƣơng của chế độ này nhƣ sau:
Lsplt = ĐG xQ + ĐGlt x (Q – Msl)
Trong đó:
ĐGlt – là đơn giá trả thêm cho những sản phẩm vƣợt mức quy định.
Chế độ tiền lƣơng có tác động khuyến khích rất mạnh mẽ công nhân hoàn thành
vƣợt mức quy định. Tuy nhiên chế độ này có thể làm cho việc tăng tiền lƣơng nhanh
hơn tốc độ tăng của năng suất lao động. Vì vậy chế độ tiền lƣơng này ít đƣợc áp dụng
trong các doanh nghiệp . Chế độ tiền lƣơng này thƣờng chỉ đƣợc áp dụng trong những
khâu trọng yếu hoặc những khâu yếu kém cần phải tăng tốc trong một thời gian ngắn.
d. Chế độ tiền lƣơng sản phẩm gián tiếp
Chế độ tiền lƣơng này thƣờng áp dụng để trả lƣơng cho công nhân phụ làm
những công việc phục vụ cho công nhân chính. Chế độ tiền lƣơng này nhằm khuyến
khích công nhân phụ phục vụ tốt hơn cho công nhân chính mà mình có trách nhiệm
phục vụ.
Chế độ tiền lƣơng này thì tiền lƣơng của công nhân phụ sẽ phụ thuộc vào việc
sản lƣợng mà công nhân chính làm ra đƣợc.
Lspgt = ĐGpv x Q
Sinh viên: Lê Thị Phương – MSSV: - Lớp: CDKT13ATH
Trang:9
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment