Friday, May 6, 2016

công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty tnhh vận tải và thương mại thực hằng

Báo cáo tốt nghiệp Công ty TNHH VT&TM Thực Hằng trở thành một công cụ đắc lực phục vụ công tác quản lý toàn doanh nghiệp thì nhiệm vụ của bất kỳ công tác kế toán nào đều phải dựa trên đặc điểm, vai trò của đối tượng được kế toán. Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương cũng không nằm ngoài qui luật này. Tính đúng thù lao lao động và thanh toán đầy đủ tiền lương và các khoản trích theo lương cho người lao động một mặt kích thích người lao động quan tâm đến thời gian lao động, đến chất lượng và kết quả lao động mặt khác góp phần tính đúng tính đủ chi phí và giá thành sản phẩm, hay chi phí của hoạt động. Vì vậy kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương phải thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau đây: + Theo dõi, ghi chép, phản ánh, tổng hợp chính xác, đầy đủ, kịp thời về số lượng, chất lượng, thời gian và kết quả lao động. Tính toán các khoản tiền lương, tiền thưởng, các khoản trợ cấp phải trả cho người lao động và tình hình thanh toán các khoản đó cho người lao động .Kiểm tra việc sử dụng lao động, việc chấp hành chính sách chế độ về lao động, tiền lương trợ cấp bảo hiểm xã hội ( BHXH ), bảo hiểm y tế ( BHYT ), kinh phí công đoàn ( KPCĐ ), trợ cấp thất nghiệp ( BHTN ) và việc sử dụng các quỹ này. + Tính toán và phân bổ các khoản chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương vào chi phí sản xuất, kinh doanh theo từng đối tượng. Hướng dẫn và kiểm tra các bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện đúng chế độ ghi chép ban đầu về lao động, tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN, mở sổ, thẻ kế toán và hạch toán lao động, tiền lương, và các khoản trích theo lương đúng chế độ. + Lập báo cáo về lao động, tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN, phân tích tình hình sử dụng lao động, quỹ tiền lương và các khoản trích theo lương, đề xuất biện pháp để khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động, tăng năng suất lao động, ngăn ngừa những vi phạm kỷ luật lao động, vi phạm chính sách chế độ về lao động, tiền lương và các khoản trích theo lương. 1.1.5:Bản chất của tiên lương và nguyên tắc tổ chức tiên lương - Bản chất của tiền lương: Bản chất của tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thỏa thuận giữa người có sức lao động và người sử dụng lao động đồng thời chịu sự chi phối của quy luật kinh tế như quy luật cung- cầu, quy luật giá trị… Mặt khác, tiền lương bao gồm đầy đủ các yếu tố cấu thành để đảm bảo nguồn thu nhập, nguồn sống chủ yếu của bản thân, gia đình người lao động là điều kiện để người Sinh viên TH: Lê Thị Hằng GVHD: Trần Thị Miến Trang:5 Báo cáo tốt nghiệp Công ty TNHH VT&TM Thực Hằng lao động hòa nhập vào thị trường xã hội. - Nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương: Nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương là cơ sở quan trọng nhất để xây dựng được một cơ chế trả lương, quản lý tiền lương và chính sách thu nhập thích hợp. Ở nước ta khi xây dựng một chế độ tiền lương và tổ chức trả lương phải theo các nguyên tắc sau: Nguyên tắc 1:Trả lương ngang nhau cho lao động như nhau. Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc phân phối theo lao động, theo nguyên tắc này thì bất kỳ ai dù có khác nhau về tuổi tác, giới tính, trình độ mà có đóng góp sức lao động như nhau thì được trả lương như nhau. Đối với công việc khác nhau thì cần thiết phải có sự đánh giá đúng mức, phân biệt công bằng, chính xác trong trả lương. Đây là nguyên tắc rất quan trọng vì nó đảm bảo được sự công bằng trong trả lương. Điều này sẽ có sức khuyến khích rất lớn đối với người lao động. Nguyên tắc 2: Bảo đảm NSLĐ tăng nhanh hơn tiền lương bình quân. Tức là có thể hiểu đơn giản như sau: Năng suất lao động là sản phẩm, là cái được làm ra. Tiền lương là cái phải trả, đó là chi phí. Vì vậy, để sản xuất có lợi nhuận, đạt hiệu quả cao thì cái làm ra phải lớn hơn tổng chi phí. Tức là tốc độ tăng NSLĐ phải lớn hơn tiền lương. Nguyên tắc này dù xét trên phạm vi toàn doanh nghiệp hoặc toàn xã hội đều thấy rõ tính khoa học hợp lý của nó phù hợp với tiến trình phát triển ngày càng đi lên của xã hội. Nguyên tắc 3:Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động làm các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân ( Tức là phải trả lương khác nhau cho lao động khác nhau). Do trình độ lành nghề bình quân của người lao động ở các ngành khác nhau điều này cho thấy, cùng một bậc thợ như nhau ở các nghành nghề khác nhau thì trình độ lành nghề khác nhau. Sự khác nhau này cần phải được phân biệt trong trả lương thông qua đó khuyến khích người lao động thông qua tay nghề, trình độ. Điều kiện lao động khác nhau. Các doanh nghiệp khác nhau thì có điều kiện lao động khác nhau do đó dẫn đến NSLĐ khác nhau có nghĩa là tiêu hao phí sức lao động khác nhau do đó tiền lương phải khác nhau để bù đắp hao phí sức lao động khác nhau đó. Sinh viên TH: Lê Thị Hằng GVHD: Trần Thị Miến Trang:6 Báo cáo tốt nghiệp Công ty TNHH VT&TM Thực Hằng Ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân trong từng giai đoạn của sự phát triển kinh tế thì ứng với nó mỗi ngành có một vị trí quan trọng thì tiền lương cao để thu hút lao động, tạo điều kiện tốt để ngành đó phát triển. Sự phân bổ theo khu vực sản xuất giữa các vùng khác nhau thì tiền lương khác nhau, điều kiện khác nhau như khí hậu, điều kiện sinh hoạt…ảnh hưởng đến khả năng làm việc, sức khỏe của con người, chi phí cho cuốc sống khác nhau, do đó để đảm bảo tái sản xuất lao động như nhau thì tiền lương khác nhau và được thực hiện thông qua phụ cấp như: Phụ cấp đắt đỏ, khu vực và một số ưu đãi. 1.2: CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP. Ở nước ta hiện nay việc trả lương cho người lao động trong các DN chủ yếu được tiến hành theo 2 hình thức: Hình thức tiền lương theo thời gian và hình thức tiền lương theo sản phẩm. 1.2.1:Hình thức tiên lương theo thời gian: • Tiền lương theo thời gian là hình thức tiền lương tính theo thời gian làm việc, cấp bậc kỹ thuật và thang lương người lao động. • Đơn vị tính lương thời gian là lương tháng, lương ngày hoặc lương giờ. • Công thức: Tiền lương theo = Thời gian làm việc thời gian thực tế • Trả lương theo thời gian giản đơn: x Đơn giá tiền lương thời gian Tiền lương theo thời gian giản đơn bao gồm: -Tiền lương tháng: Là tiền lương trả cho người lao động theo thang bậc lương quy định gồm tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp như phụ cấp độc hại, phụ cấp khu vực…Tiền lương tháng thường được áp dụng cho nhân viên làm công việc quản lý hành chính, quản lý kinh tế. Công thức: Mi = Mn x Hi + ( Mn x Hi x Hp ) Trong đó: Mi: Mức lương lao động bậc i Mn: Mức lương tối thiểu Hi: Hệ số cấp bậc lương bậc i Hp: Hệ số lương phụ cấp Sinh viên TH: Lê Thị Hằng GVHD: Trần Thị Miến Trang:7 Báo cáo tốt nghiệp Công ty TNHH VT&TM Thực Hằng -Tiền lương ngày: Là tiền lương trả cho một ngày làm việc và là căn cứ để trợ cấp BHXH phải chi trả cho CBCNV, thường áp dụng trả cho nhân viên trong thời gian học tập, hội họp hoặc làm nhiệm vụ khác. Lương ngày được xác định bằng cách lấy tiền lương tháng chia cho số ngày làm việc theo chế độ trong tháng. Công thức: Tiền lương tháng Số ngày làm việc theo chế độ quy định -Lương giờ: Là tiền lương trả cho 1 giờ làm việc được áp dụng để tính đơn giá tiền Tiền lương ngày = lương trả theo sản phẩm. Công thức: Tiền lương ngày Số giờ làm việc trong ngày theo chế độ -Tiền lương theo thời gian có thưởng: là sự kết hợp giữa hình thức tiền lương giản Tiền lương giờ = đơn với chế độ tiền thưởng trong sản xuất. Công thức: Tiền lương thời gian có thưởng = Tiền lương thời gian + Tiền thưởng có giản đơn tính chất lương Ưu điểm: dễ làm, dễ tính đến thời gian làm việc thực tế có thể lập bảng tính sẵn. Nhược điểm: Chưa đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động vì hình thức này chưa tính đến một cách đầy đủ chất lượng lao động, chưa phát huy hết khả năng sẵn có của người lao động nên không khuyến khích được người lao động quan tâm đến kết quả lao động. Vì vậy để khắc phục bớt những hạn chế này ngoài việc tổ chức theo dõi ghi chép đầy đủ thời gian làm việc của công nhân viên, DN cần phải thường xuyên kiểm tra tiến độ làm việc và chất lượng công việc của công nhân viên kết hợp với chế độ khen thưởng hợp lý. 1.2.2:Hình thức tiên lương theo sản phẩm:  Theo hình thức này tiền lương tính trả cho người lao động căn cứ vào kết quả lao động, số lượng và chất lượng sản phẩm công việc lao vụ đã hoàn thành và đơn giá tiền lương cho một đơn vị sản phẩm, công việc và lao vụ đó.  Các hình thức tiền lương sản phẩm như sau: - Hình thức trả lương sản phẩm trực tiếp: Được áp dụng chủ yếu đối với công nhân trực tiếp sản xuất căn cứ vào số lượng sản phẩm mà họ hoàn thành đúng quy cách, phẩm Sinh viên TH: Lê Thị Hằng GVHD: Trần Thị Miến Trang:8 Báo cáo tốt nghiệp Công ty TNHH VT&TM Thực Hằng chất và đơn giá của mỗi đơn vi SP. Công thức: Tiên lương SP = Khối lượng SP hoàn thành x Đơn giá tiên lương -Hình thức trả lương sản phẩm gián tiếp: Đây là tiền lương trả cho công nhân viên phụ cùng tham gia sản xuất với công nhân viên chính đã ảnh hưởng lương theo sản phẩm. Công thức: Tiền lương SP = Số lượng SP hoàn thành của x Đơn giá tiền lương SP gián tiếp công nhân sản xuất gián tiếp -Hình thức tiền lương tính theo sản phẩm có thưởng: Đây là sự kết hợp giữa hai hình thức tiền lương kể trên với các khoản tiền thưởng có tính chất lương. -Hình thức tiền lương theo sản phẩm luỹ tiến: Tiền lương trả cho công nhân viên căn cứ vào số lượng sản phẩm đã sản xuấ tra theo hai loại đơn giá khác nhau: Đơn giá cố định đối với số sản phẩm trong mức qui định và đơn giá luỹ tiến đối với số sản phẩm vượt định mức. Hình thức trả lương này có tác dụng khuyến khích nâng cao năng suất lao động nên nó thường được áp dụng ở những khâu trọng yếu mà việc tăng năng suất lao động có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất ở các khâu khác nhau trong thời điểm chiến dịch kinh doanh để giải quyết kịp thời hạn qui định… Tuy nhiên cách trả lương này dễ dẫn đến khả năng tốc độ tăng của tiền lương bình quân nhanh hơn tốc độ tăng của năng suất lao động. Vì vậy khi sản xuất đã ổn định, các điều kiện nêu trên không còn cần thiết thì chuyển sang hình thức tiền lương sản phẩm bình thường. -Hình thức tiền lương khoán: Theo hình thức này người lao động sẽ nhận được một khoản tiền nhất định sau khi hoàn thành xong khối lượng công việc được giao theo đúng thời gian chất lượng quy định đối với loại công việc này. Có 2 phương pháp khoán: Khoán công việc và khoán quỹ lương. + Khoán công việc: Doanh nghiệp quy định mức tiền lương cho mỗi công việc hoặc khối lượng sản phẩm hoàn thành. Người lao động căn cứ vào mức lương này có thể tính được tiền lương của mình thông qua khối lượng công việc mình đã hoàn thành. + Khoán quỹ lương: Theo hình thức này, người lao động biết trước số tiền lương mà họ sẽ nhận được sau khi hoàn thành công việc kịp thời gian được giao. Căn cứ vào khối lượng từng công việc hoặc khối lượng sản phẩm và thời gian cần thiết để hoàn thành mà Sinh viên TH: Lê Thị Hằng GVHD: Trần Thị Miến Trang:9 Báo cáo tốt nghiệp Công ty TNHH VT&TM Thực Hằng DN tiến hành khoán quỹ lương. 1.3: QŨY LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG: 1.3.1: Qũy lương: Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương mà doanh nghiệp trả cho tất cả lao động thuộc doanh nghiệp quản lý. Thành phần quỹ tiền lương bao gồm nhiều khoản như lương thời gian (tháng, ngày, giờ), lương sản phẩm, phụ cấp (chức vụ, đắt đỏ, khu vực. . .), tiền thưởng trong sản xuất.Quỹ tiền lương(hay tiền công) bao gồm nhiều loại, tuy nhiên về hạch toán có thể chia thành tiền lương lao động trực tiếp và tiền lương lao động gián tiếp, trong đó chi tiết theo tiền lương chính và tiền lương phụ. 1.3.2: Các khoản trích theo lương. * Bảo hiểm xã hội (BHXH): Quỹ BHXH được hình thành do trích lập và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định nhà nước. Theo quy định hiện hành hằng tháng đơn vị tiến hành trích lập quỹ BHXH theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương cấp bậc phải chi trả cho CNV trong một tháng và phân bổ cho các đối tượng liên quan đến việc sử dụng lao động. Người sử dụng lao động phải trích một tỷ lệ nhất định trên tổng số quỹ lương cấp bậc và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, còn một tỷ lệ do người lao động trực tiếp đóng góp và được khấu trừ vào thu nhập trực tiếp của họ. Quỹ BHXH được thiết lập nhằm tạo ra nguồn tài trợ cho CNV trong trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, nghỉ hưu. Theo chế độ hiện hành nguồn quỹ BHXH do cơ quan chuyên trách quản lý và chi trả các trường hợp nghỉ hưu, mất sức lao động, tai nạn, tử tuất, ở tại doanh nghiệp được phân cấp trực tiếp chi trả các trường hợp như ốm đau, thai sản và tổng hợp chi tiêu để quyết toán với cơ quan chuyên trách. Việc hình thành nên quỹ BHXH còn do một số nguồn khác như doanh nghiệp làm ăn phát đạt, ủng hộ cho các chương trình xã hội, thành lập quỹ đền ơn đáp nghĩa. Việc trích lập quỹ BHXH là một việc làm cần thiết và nhân đạo, đây là một nội dung quan trọng của chính sách xã hội mà nhà nước đảm bảo trước pháp luật cho mọi người dân nói chung và cho mỗi người lao động nói riêng. * Bảo hiểm y tế (BHYT): Bảo hiểm y tế theo quy định của chế độ tài chính hiện hành gồm hai nguồn: Một Sinh viên TH: Lê Thị Hằng GVHD: Trần Thị Miến Trang:10

No comments:

Post a Comment