Saturday, May 14, 2016

hoàn thiện công tác kế toán tài sản cố định tại công ty tnhh tư vấn và xây dựng nam thọ

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Đỗ Thị Hạnh LỜI NÓI ĐẦU Ta biết rằng bất kỳ một đơn vị sản xuất kinh doanh nào thì việc hạch toán kế toán nói chung và kế toán tài sản cố định nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi tài sản cố định là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh là một tƣ liệu lao động có giá trị lớn và là loại vốn kinh doanh cơ bản của Doanh nghiệp. Tài sản cố định đƣợc biểu hiện bằng năng lực sản xuất của Doanh nghiệp vì thế một Doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh lâu dài, liện tục có hiệu quả thì một vấn đề đặt ra phải đáp ứng yêu cầu về tài sản cố định và sử duịng chúng một cách có hiệu quả và hợp lý. Để tìm hiểu sâu về vấn đề này em đã mạnh dạn lựa chọn để tài: Hoàn thiện công tác kế toán Tài sản cố định tại công ty TNHH Tƣ vấn và Xây dựng Nam Thọ” để làm bài viết này Kết cầu của chuyên đề gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luân chung về kế toán tài sản cố định Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tài sản cố định tại Công ty TNHH Tƣ Vấn và Xây Dựng Nam Thọ Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sủ dụng tài sản cố định tại Công ty TNHH Tƣ Vấn và Xây Dựng Nam Thọ Sau đợt thực tập tại Công ty TNHH Tƣ Vấn và Xây Dựng Nam Thọ. Với sự hƣớng dẫn tận tình của Cô giáo: Đỗ Thị Hạnh cùng với sự quan tâm của ban Giám đốc, các Phòng, ban đặc biệt là phòng Kế toán tài vụ đã giúp em hoàn thành chuyên đề tổng hợp này. Do thời gian thực tập ngắn, kinh nghiệm bản thân còn có hạn nên không tránh đƣợc những thiếu sót bở ngỡ. Em rất mong đƣợc sự quan tâm đóng góp ý kiến của các rhầy cô và ban lãnh đạo Công ty để em tiếp thu bổ sung kiến thức đã học và nâng cao nghiệp vụ, phục vụ tốt cho công tác chuyên môn. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên: Lê Kim Dung – MSSV:11019363 Trang 1 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Đỗ Thị Hạnh CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1.T ÀI SẢN VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP. Đối với bất cứ một doanh nghiệp nào, khi tiến hành hoạt động kinh doanh mục tiêu duy nhất của họ là tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị doanh nghiệp hay mục tiêu tăng trƣởng. Nhƣ vậy tài sản ở đây phải hiểu là các yếu tố kinh tế cả hữu hình lẫn vô hình mà doanh nghiệp nắm giữ, quản lý, sử dụng để mang lại lợi ích cho doanh nghiệp trong tƣơng lai. Tài sản trong doanh nghiệp đƣợc phân ra làm hai loại là tài sản lƣu động (TSLĐ) và TSCĐ:  TSLĐ là những đối tƣợng lao động, tham gia toàn bộ và luân chuyển giá trị một lần vào giá trị sản phẩm. TSLĐ trong doanh nghiệp thƣờng đƣợc chia làm hai loại là TSLĐ sản xuất (nguyên, nhiên, vật liệu…) và TSLĐ lƣu thông (Các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền,…). TSLĐ có đặc điểm là trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSLĐ luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc tiến hành liên tục. TSCĐ là tƣ liệu lao động quan trọng trong qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc tạo ra sản phẩm sản xuất. Tóm lại, có thể khẳng đinh rằng, tài sản đóng vai trò lớn trong việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp mà trong đó TSCĐ có ý nghĩa quan trọng, góp phần đáng kể đem lại những lợi ích cho doanh nghiệp. Dƣới đây ta sẽ nghiên cứu cụ thể hơn về TSCĐ trong doanh nghiệp. 1.2.TÀI SẢN CỐ ĐỊNH. 1.2.1.Khái niệm - đặc điểm TSCĐ. Sinh viên: Lê Kim Dung – MSSV:11019363 Trang 2 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Đỗ Thị Hạnh Lịch sử phát triển của sản xuất – xã hội đã chứng minh rằng muốn sản xuất ra của cải vật chất, nhất thiết phải có 3 yếu tố : sức lao động, tƣ liệu lao động và đối tƣợng lao động. Đối tƣợng lao động chính là các loại nguyên, nhiên, vật liệu. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, đối tƣợng lao động chịu sự tác động của con ngƣời lao động thông qua tƣ liệu lao động để tạo ra sản phẩm mới. Qua quá trình sản xuất, đối tƣợng lao động không còn giữ nguyên đƣợc hình thái vật chất ban đầu mà nó đã biến dạng, thay đổi hoặc mất đi. Tuy nhiên, khác với đối tƣợng lao động, các tƣ liệu lao động (nhƣ máy móc thiết bị, nhà xƣởng, phƣơng tiện vận tải, phƣơng tiện truyền dẫn) là những phƣơng tiện vật chất mà con ngƣời lao động sử dụng để tác động vào đối tƣợng lao động, biến đổi nó theo mục đích của mình. Bộ phận quan trọng nhất trong các tƣ liệu lao động đƣợc sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là các TSCĐ. Trong quá trình tham gia vào sản xuất, tƣ liệu lao động này chủ yếu đƣợc sử dụng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp và có thể tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất nhƣng vẫn không thay đổi hình thái vật chất ban đầu. Thông thƣờng một tƣ liệu lao động đƣợc coi là một TSCĐ phải đồng thời thoả mãn 2 tiêu chuẩn cơ bản sau: - Một là phải có thời gian sử dụng trên 1 năm hoặc một kỳ sản xuất kinh doanh (nếu trên 1 năm) Hai là phải đạt một giá trị tối thiểu ở một mức quy định. Tuỳ theo điều kiện, yêu cầu và trình độ quản lý trong từng giai đoạn phát triển kinh tế mà ở mỗi nƣớc, ở mỗi thời kỳ những tiêu chuẩn về giá trị của những tƣ liệu lao động đƣợc xác định là TSCĐ sẽ khác nhau. Để có thể hiểu rõ hơn việc đƣa ra 2 tiêu chuẩn trên ta có thể đƣa ra những phân tích nhƣ sau: TSCĐ là tƣ liệu lao động nhƣng không phải tất cả tƣ liệu lao động là TSCĐ. Những tƣ liệu lao động nào là TSCĐ ít nhất phải là sản phẩm lao động xã hội và có giá trị. Giá trị của TSCĐ biểu hiện lƣợng hao phí lao động cần thiết Sinh viên: Lê Kim Dung – MSSV:11019363 Trang 3 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Đỗ Thị Hạnh nhất định để sản xuất sản phẩm và lƣợng lao động vật hoá thể hiện trong sản phẩm đó. Do vậy, đất đai, sông ngòi đƣợc coi là tƣ liệu lao động nhƣng không đƣợc tính vào TSCĐ vì nó không phải là sản phẩm của lao động xã hội và không có giá trị. Tuy nhiên, không phải tất cả những tƣ liệu lao động vốn là sản phẩm của lao động xã hội và có giá trị đều đƣợc coi là TSCĐ cả. Ngƣời ta thƣờng quy định một giới hạn nhất định về giá trị và về thời hạn sử dụng. Giới hạn về thời hạn sử dụng, ở tất cả các nƣớc đều quy định là một năm. Nguyên nhân là do thời hạn này phù hợp với thời hạn kế hoạch hoá, quyết toán thông thƣờng và không có gì trở ngại đối với vấn đề quản lý nói chung. Giới hạn về giá trị thì ở các nƣớc khác nhau đều không giống nhau vì giới hạn về giá trị nhất định phải phù hợp với quá trình hình thành giá trị, có hiệu lực chung đối với tất cả hoặc đối với nhiều ngành kinh tế, đồng thời phải bảo đảm việc hạch toán chi phí sản xuất, tính toán kế hoạch ... đƣợc thuận tiện. Hiện nay, theo quy định của Nhà nƣớc thì những tƣ liệu đƣợc coi là TSCĐ nếu chúng thoả mãn hai tiêu chí, đó là thời gian sử dụng lớn hơn một năm, giá trị đơn vị đạt tiêu chuẩn từ 5000.000 đồng. Nhƣ vậy, có những tƣ liệu lao động không đủ hai tiêu chuẩn quy định trên thì không đƣợc coi là TSCĐ và đƣợc xếp vào “công cụ lao động nhỏ” và đƣợc đầu tƣ bằng vốn lƣu động của doanh nghiệp, có nghĩa là chúng là TSLĐ. Tuy nhiên, trong thực tế việc dựa vào hai tiêu chuẩn trên để nhận biết TSCĐ là không dễ dàng do các nguyên nhân sau: Một là, do trong một số trƣờng hợp việc phân biệt đối tƣợng lao động với các tƣ liệu lao động là TSCĐ của doanh nghiệp không chỉ đơn thuần dựa vào đặc tính hiện vật mà còn dựa vào tính chất công dụng của chúng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Điều này có nghĩa là có thể cùng một loại tài sản nhƣng ở trƣờng hợp này nó đƣợc coi là TSCĐ nhƣng ở trong trƣờng hợp khác nó lại đƣợc coi là đối tƣợng lao động. Chẳng hạn nhƣ máy móc thiết bị, nhà xƣởng dùng trong sản xuất thì sẽ đƣợc coi là TSCĐ song nếu là các sản phẩm máy móc Sinh viên: Lê Kim Dung – MSSV:11019363 Trang 4 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Đỗ Thị Hạnh hoàn thành đang đƣợc bảo quản trong kho thành phẩm chờ tiêu thụ hoặc là công trình xây dựng cơ bản chƣa bàn giao thì chỉ đƣợc coi là tƣ liệu lao động. Nhƣ vậy, vẫn những tài sản đó nhƣng dựa vào tính chất, công dụng mà khi thì là TSCĐ khi chỉ là đối tƣợng lao động. Tƣơng tự nhƣ vậy trong sản xuất nông nghiệp, những gia súc đƣợc sử dụng làm sức kéo, cho sản phẩm thì đƣợc coi là TSCĐ nhƣng vẫn chính gia súc đó khi đƣợc nuôi để lấy thịt thì chỉ là các đối tƣợng lao động mà thôi. Hai là, đối với một số các tƣ liệu lao động nếu đem xét riêng lẻ thì sẽ không thoả mãn tiêu chuẩn là TSCĐ. Tuy nhiên, nếu chúng đƣợc tập hợp sử dụng đồng bộ nhƣ một hệ thống thì cả hệ thống đó sẽ đạt những tiêu chuẩn của một TSCĐ. Ví dụ nhƣ trang thiết bị trong một phòng thí nghiệm, một văn phòng, một phòng nghỉ khách sạn, một vƣờn cây lâu năm... Ba là, hiện nay do sự tiến bộ của khoa học công nghệ và ứng dụng của nó vào hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời do những đặc thù trong hoạt động đầu tƣ của một số ngành nên một số khoản chi phí doanh nghiệp đã chi ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nếu đồng thời đều thoả mãn cả hai tiêu chuẩn cơ bản trên và không hình thành TSCĐHH thì đƣợc coi là các TSCĐVH của doanh nghiệp. Ví dụ nhƣ các chi phí mua bằng sáng chế, phát minh, bản quyền, các chi phí thành lập doanh nghiệp... Đặc điểm chung của các TSCĐ trong doanh nghiệp là sự tham gia vào những chu kỳ sản xuất sản phẩm với vai trò là các công cụ lao động. Trong quá trình tham gia sản xuất, hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ không thay đổi. Song TSCĐ bị hao mòn dần (hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình) và chuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất chuyển hoá thành vốn lao động. Bộ phận giá trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đƣợc bù đắp mỗi khi sản phẩm đƣợc tiêu thụ. Hay lúc này nguồn vốn cố định bị giảm một lƣợng đúng bằng giá trị hao mòn của TSCĐ đồng thời với việc hình thành nguồn vốn đầu tƣ Sinh viên: Lê Kim Dung – MSSV:11019363 Trang 5 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Đỗ Thị Hạnh XDCB đƣợc tích luỹ bằng giá trị hao mòn TSCĐ. Căn cứ vào nội dung đã trình bày trên có thể rút ra khái niệm về TSCĐ trong doanh nghiệp nhƣ sau : TSCĐ trong các doanh nghiệp là những tƣ liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, còn giá trị của nó thì đƣợc chuyển dịch từng phần vào giá trị sản phẩm trong các chu kỳ sản xuất. Trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, các TSCĐ của doanh nghiệp cũng đƣợc coi nhƣ bất cứ một loại hàng hoá thông thƣờng khác. Vì vậy nó cũng có những đặc tính của một loại hàng hoá có nghĩa là không chỉ có giá trị mà còn có giá trị sử dụng. Thông qua quan hệ mua bán, trao đổi trên thị trƣờng, các TSCĐ có thể đƣợc dịch chuyển quyền sở hữu và quyền sử dụng từ chủ thể này sang chủ thể khác. 1.2.2. Phân loại TSCĐ. Để quản lý và sử dụng có hiệu quả TSCĐ ngƣời ta phân loại TSCĐ. Việc phân loại TSCĐ đƣợc đúng đắn, kịp thời, đầy đủ sẽ tạo tiền đề cho việc hạch toán kế toán, thống kê và kế hoạch hoá biện pháp kỹ thuật sản xuất trong các doanh nghiệp. Muốn phân loại TSCĐ đúng cần căn cứ vào các đặc điểm về công dụng, hình thái biểu hiện... Tuỳ theo yêu cầu của công tác quản lý mà có thể phân loại TSCĐ theo các cách chủ yếu sau đây: 1.2.2.1. Phân loại theo hình thái biểu hiện. Theo cách phân loại này, TSCĐ trong doanh nghiệp chia làm hai loại: TSCĐ mang hình thái vật chất (TSCĐHH) và TSCĐ không có hình thái vật chất (TSCĐVH). TSCĐHH : Là những tƣ liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất cụ thể ( từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận taì sản liên kết với nhau để thực hiện một hoặc một số chức năng nhất định), có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nhƣng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu nhƣ nhà xƣởng, máy móc thiết bị, phƣơng tiện vận tải..... Sinh viên: Lê Kim Dung – MSSV:11019363 Trang 6

No comments:

Post a Comment