Friday, June 10, 2016
bài số 2 nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại công ty cổ phần xây dựng tiến đạt
Báo cáo thực tập
4.1.2. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
GVHD: Th.S. Lê Duy Thành
Báo cáo thực tập sẽ thiếu đi một phần nếu như các dữ liệu thu thập được
chỉ là các dữ liệu sơ cấp, vì vậy để hoàn thành đề tài này ngoài dữ liệu sơ cấp
rất cần đến dữ liệu thứ cấp. Dữ liệu thứ cấp là những dữ liệu được cung cấp
qua một nguồn thứ ba.
*Phương pháp nghiên cứu tại công ty
Việc nghiên cứu các tài liệu về các thành viên trong nguồn lao động, kết
quả hoạt động của các thành viên thông qua chuyên đề định kỳ của phòng
kinh doanh sẽ bổ sung những thông tin mang tính chất thực tế cho báo cáo
thực tập vì những lý luận đưa ra được chứng minh bởi các dữ liệu quan trọng
này.
Các thông tin từ các tạp chí kinh tế
Thông
tin
từ
các
trang
web
như:
vietbao.vn,
diendoandoanhnghiep.com.vn, vietnamnet.com
4.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
Báo cáo thực tập được hoàn thành bở các dữ liệu được xử lý thông qua
các phép duy vật biện chứng và phương pháp lịch sử. Cụ thể là sử dụng các kỹ
thuật so sánh, phân tích, đối chiếu. Ngoài ra các dữ liệu còn được xử lý qua
các phần mềm hỗ trợ như phần mềm word, excel.
5. Cấu trúc báo cáo
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, báo cáo thực tập gồm 3 chương,
đó là:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nguồn lao động .
Chương 2: Phân tích thực trạng về sử dụng lao động tại Công ty Cổ phần
xây dựng Tiến Đạt.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại Công ty Cổ
phần xây dựng Tiến Đạt.
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Nụ - MSSV: 11033313
Trang 11
Báo cáo thực tập
GVHD: Th.S. Lê Duy Thành
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Nụ - MSSV: 11033313
Trang 12
Báo cáo thực tập
GVHD: Th.S. Lê Duy Thành
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN LAO ĐỘNG
1.1. Khái quát chung về lao động
1.1.1. Khái niệm lao động
Lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Lao động là
hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm
phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội. Lao động là hoạt động đặc trưng
nhất, là hoạt động sáng tạo của con người. Trong quá trình lao động con
người vận dụng sức tiềm tàng trong thân thể mình, sử dụng công cụ lao động
để tác động vào giới tự nhiên, chiếm lấy những vật chất tự nhiên, biến đổi vật
chất đó, làm cho chúng có ích trong đời sống của mình. Vì thế lao động là điều
kiện không thể thiếu được của đời sống con người, là một sự tất yếu vĩnh cửu,
là môi giới trong sự trao đổi vật chất giữa tự nhiên và con người.
1.1.2. Khái niệm về nguồn lao động
Là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định thực tế có tham gia lao
động (đang có việc làm), và những người không có việc làm nhưng đang tích
cực tìm việc làm. Nguồn lao động được biểu hiện trên hai mặt số lượng và
chất lượng. Như vậy theo khái niệm nguồn lao động thì có một số người được
tính vào nguồn nhân lực nhưng không phải là nguồn lao động. Đó là những
người lao động không có việc làm, nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm,
những người đang đi học, những người đang làm nội trợ trong gia đình và
những người thuộc tính khác (nghỉ hưu trước độ tuổi quy định). Trong nguồn
lao động chỉ có bộ phận những người đang tham gia lao động là trực tiếp góp
phần tạo ra thu nhập của xã hội.
1.2. Xu hướng yêu cầu của lực lượng lao động hiện nay
- Đòi hỏi phải được trang bị đầy đủ kiến thức cơ bản và kiến thức
chuyên ngành.
- Tác phong làm việc công nghiệp được đánh giá cao.
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Nụ - MSSV: 11033313
Trang 13
Báo cáo thực tập
GVHD: Th.S. Lê Duy Thành
- Nhạy bén, năng động, tiếp thu nhanh và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào thực tiễn công việc, thay đổi, thích ứng theo công nghệ mới.
- Kỹ năng mềm đang ngày càng chiếm ưu thế trong chỉ tiêu tuyển chọn
nguồn lao động, nên đây là một yếu tố khá cần thiết cho nguồn lao động trong
tương lai.
1.3. Vai trò của nguồn lao động
Khi cuộc các mạng khoa học, công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, khi mà
nền kinh tế Thế giới đã và đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, nguồn lực
con người, nguồn lực trí tuệ ngày càng được thừa nhận vai trò trung tâm
trong quá trình phát triển.
Nguồn lao động là một yếu tố đầu vào trực tiếp của quá trình sản xuất :
Với tư cách là yếu tố đầu vào trực tiếp của sản xuất, nguồn lao động tác
động đến tăng trưởng, phát triển kinh tế trên cả hai phương diện : vật chất và
chi phí.
+ Vật chất : năng suất, chất lượng, số lượng lao động.
+ Chi phí : giá cả lao động.
Chất lượng nguồn lao động ở đây bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức
khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, tức là toàn bộ năng lực sáng tạo, năng
lực hoạt động thực tiễn. Nếu người lao động có kỹ năng lao động, trình độ
khoa học kỹ thuật thì hiển nhiên là năng suất lao động sẽ cao hơn. Người lao
động cần được trang bị kỹ năng lao động, sự hiểu biết, trình độ về khoa học
công nghệ… đó là điều kiện thiết yếu nhằm đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển
công nghệ tiên tiến.
Nguồn lao động là yếu tố quyết định đến việc sử dụng tốt các nguồn lực
khác :
Nguồn lao động là chủ đề khai thác, sử dụng các nguồn lực, chỉ khi kết
hợp với người lao động, các nguồn lực khác mới phát huy tác dụng.
Nguồn lao động là nhân tố tiêu dùng, tham gia tạo cầu nối để thúc đẩy
phát triển kinh tế :
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Nụ - MSSV: 11033313
Trang 14
Báo cáo thực tập
GVHD: Th.S. Lê Duy Thành
Nguồn lao động là khách thể, là đối tượng khai thác các năng lực thể
chất và trí tuệ cho sự phát triển. Vậy họ vừa là chủ thể vừa là khách thể của
các quá trình kinh tế - xã hội, là nguồn lực của mọi nguồn lực. Sự kết hợp
thống nhất biện chứng giữa người lao động với công nghệ tiên tiến sẽ là động
lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế.
Kinh tế tăng trưởng mang lại sự giàu có về vật chất, suy cho cùng,
không ngoài mục đích đáp ứng tốt hơn các nhu cầu sống của bản thân con
người. Vậy con người nói chung và người lao động nói riêng không chỉ là
động lực mà còn là mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn lao động
1.4.1. Ảnh hưởng đến số lượng
1.4.1.1. Dân số
Dân số được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động : quy mô
và cơ cấu của nguồn lao động. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự biến động
của dân số là : phong tục, tập quán của từng nước, trình độ phát triển kinh tế,
mức độ chăm sóc y tế và chính sách của từng nước đối với vấn đề khuyến
khích hoặc hạn chế sinh đẻ.
1.4.1.2. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động
Đó là số phần trăm của dân số trong độ tuổi lao động tham gia lực
lượng lao động trong nguồn nhân lực. Nhân tố cơ bản tác động đến tỷ lệ tham
gia lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động không có nhu cầu làm
việc vì đang đi học, đang làm nội trợ hoặc ở trong tình trạng khác (nghỉ hưu
trước tuổi).
1.4.1.3. Số lao động thất nghiệp
Thất nghiệp gồm những người không có việc làm nhưng đang tích cực
tìm việc làm. Số người không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến số người làm việc
và ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của nền kinh tế.
Thất nghiệp là vấn đề trung tâm của mọi quốc gia vì nó không chỉ tác
động về kinh tế mà tác động cả về khía cạnh xã hội.
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Nụ - MSSV: 11033313
Trang 15
Báo cáo thực tập
GVHD: Th.S. Lê Duy Thành
1.4.1.4. Thời gian lao động
Thời gian lao động thường được tính bằng: số ngày làm việc/năm; số
giờ làm việc/năm; số ngày là việc/tuần; số giờ làm việc/tuần hoặc số giờ làm
việc/ngày, xu hướng chung của các nước là thời gian làm việc sẽ giảm đi khi
trình độ phát triển kinh tế được nâng cao.
1.5. Phân loại lao động
Có nhiều tiêu thức chung để phân loại lao động, sau đây là một số tiêu
thức cơ bản:
Theo tính chất ổn định của lao động
Lao động thường xuyên, lâu dài: là lực lượng lao động được tuyển dụng
làm những công việc lâu dài, bao gồm lao động chính thức trong biên chế, lao
động theo hợp đồng dài hạn.
Lao động tạm thời, thời vụ: là những lao động làm những việc có tính
chất thời vụ, hoặc do yêu cầu đột xuất.
Nghiên cứu lao động theo tiêu thức này cho phép đánh giá tính ổn định
của lao động, phục vụ công tác quản lý lao động.
Theo tác dụng của từng loại lao động đối với quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Lao động trực tiếp: là những người lao động trực tiếp gắn liền với quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bao gồm: công nhân và những
người học nghề.
Lao động gián tiếp: có chức năng vạch ra phương hướng, tổ chức điều
hòa, phối hợp kiểm tra hoạt động của những người sản xuất. Gồm những
nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý tài chính.
Cách phân loại này giúp ta biết được cơ cấu hợp lý giữa các loại lao
động, tạo điều kiện tăng năng suất và sử dụng tiết kiệm lao động.
*Theo trình độ chuyên môn của người lao động
-Trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Nụ - MSSV: 11033313
Trang 16
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment